Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Nhiếp ảnh ở Việt Nam thời trước (Dương Trung Quốc)
Nhiếp ảnh ở Việt Nam thời trước (Dương Trung Quốc) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
17/04/2009

NHIẾP ẢNH Ở VIỆT NAM THỜI TRƯỚC

* Dương Trung Quốc

Cho đến giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, xuất hiện nhu cầu ghi chép bằng hình những sự kiện đang xảy ra. Họ thường áp dụng khoa vẽ tiểu tượng (iconographe)., tức là vẽ tả chân giống như thật thường bằng bút sắt. Những họa sĩ đóng vai trò như phóng viên báo chí luôn đi theo các đoàn thám hiểm hay các đạo quân viễn chinh để ghi nhận các sự kiện hoặc nhân vật bằng những ký họa có tính chất phát thảo hoặc “étude”  chi tiết để sau đó, hoặc tự mình, hoặc có những chuyên viên khác bằng những nét bút sắt rất chi tiết, hoàn chỉnh thành những bức tranh rất hiện thực tựa gần như ảnh chụp, rồi khắc in. Nhờ vậy mà ngày nay chúng ta còn có được nhiều bức tranh ghi lại những sự kiện diễn ra trên đất nước ta vào thời điểm liên quan đến công cuộc chinh phục thuộc địa của thực dân. Các ghi hình này còn duy trì cho tới những năm đầu thế kỷ XX, trước khi máy ảnh hiện đại du nhập và trở thành phổ biến.

30 năm sau ngày phát minh ra máy ảnh ở châu Âu (1839), nghề nhiếp ảnh được du nhập vào Việt Nam năm 1869 gắn liền với tên tuổi nhà canh tân Đặng Huy Trứ, người đã học và mua sắm thiết bị nghề ảnh từ các tô giới của người phương Tây ở Trung Hoa đưa về mở một hiệu ảnh tư nhân đầu tiên ở Việt Nam. Họ Đặng cho rằng người dân ta rất trọng chữ Hiếu, nay nhờ cách ghi lại được hình ảnh rất cụ thể của người đang sống (chân dung), sẽ giúp cho con cháu muôn đời sau biết được khuôn mặt của ông cha mình để làm tròn chữ Hiếu. Do vậy mà cửa hiệu ảnh đầu tiên ông lập ở phố Thanh Hà, Hà Nội mang biển hiệu là “Cảm Hiếu Đường”. Rất tiế là cho đến nay, chúng ta không còn lưu được những sản phẩm của “Cảm Hiếu Đường”.

Đến thập niên 1870, chính sử của Triều Nguyễn có ghi lại việc vua Tự Đức cho mở tại Huế một tiệm chụp ảnh gần Viện Thương Bạc, bên ngoài của Thượng Tứ (nay là nhà số 3 phố Trần Hưng Đạo, Huế). Bức hình còn lưu được do hiệu ảnh này chụp là chân dung vua Đồng Khánh (chụp năm 1886). Một nhân viên Bộ Hộ là Trương Văn Sán được cử qua Pháp học nghề và được nhà vua giao cia quản tiệm ảnh này vào tháng 8-1887.

Tuy nhiên, những tấm ảnh đầu tiên chụp có liên quan đến Việt Nam lại là do người Pháp chụp tại Việt Nam hoặc tại Pháp như hình ảnh liên quan đến những phái bộ Việt Nam sang thương lượng tại Pháp với chân dung các nhân vật Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, Ngụy Khắc Đản…Bên cạnh đó là những tấm ảnh được chụp ở Việt Nam mà lúc đầu hoàn toàn mang tính chất nghiệp dư, do những người thực dân có máy chụp trong thời gian có mặt tịa thuộc địa. Do vậy cho đến nay chúng ta còn có được một khối lượng đáng kể những hình ảnh của quá khứ cách đây trên dưới một thế nkỷ, phản ánh cảnh quan, sản vật, con người và sự kiện xảy ra ở nước ta cuối thế kỷ XIX. Tấm ảnh cô gái nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ hoàn toàn khỏa thân nằm trong một bộ sưu tập 74 ảnh được bán đấu giá tại hãng Christie’s swire ở Hong Kong tháng 10-1992 là một điển hình (thời điểm chụp tấm ảnh được người bán xác định là cuối thế kỷ XIX).

Cho đến hai thập kỷ đầu của thế kỷ này thì sự thực có một cuộc “bùng nổ” về nhiếp ảnh ở Việt Nam, khi mà thực dân Pháp đã xác lập được quyền thống trị và mở rộng quy mô công cuộc khai thác thuộc địa. Chính thức thì đến năm 1916, bên cạnh phủ toàn quyền Đông Dương mới có một đơn vị chuyên chụp ảnh và quay phim do đội quân Pháp cử sang, nhằm trước hết là phục vụ công việc tuyên truyền trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918).

Sau chiến tranh, nhiếp ảnh tiếp tục sử dụng một cách đắc lực cho việc tuyên truyền thuộc địa cho chính quốc, nhằm thu hút sự chú ý của các chính khách, cũng như các nhà đầu tư vào thuộc địa để khai thác. Đây cũng là thời kỳ bùng nổ việc chụp và in các loại bưu ảnh về Đông Dương, phù hợp với thị hiếu chơi carte postale đang phát triển mạnh mẽ ở châu Âu. Các nhà nhiếp ảnh, chủ yếu là người Pháp đổ xô đi tìm kiếm những hình ảnh ở Đông Dương để chụp ảnh tư liệu và in bưu ảnh, đặc biệt có thể kể đến tên Hãng dieulefils đã tung ra hàng ngàn kiểu mẫu bưu ảnh, phản ảnh mọi mặt về đời sống thuộc địa: giới thiệu các chủng tộc, mô tả dân tộc học, sinh hoạt của người bản xứ, cảnh đẹp, sản vật, nghề thủ công, triều đình, các loại văn hóa và nghệ thuật…Cho đến nay ở Pháp, việc sưu tập các bức ảnh này vẫn thu hút nhiều người quan tâm. Các bộ sưu tập bưu ảnh hiện nay vẫn còn ở nước ta trong trung tâm lưu trữ (nhưg chất lượng bị xuống cấp)…

Cũng vào thời gian này, công cuộc nghiên cứu nhằm khai thác thuộc địa cũng được đẩy mạnh với sự hình thành nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học hoặc các hội đoàn của các nhà khỏa cứu ví như Trường Viễn Đông bác cổ (École Francaise d’Extrême-Orient), Hội đô thành hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Húe), Hội Địa lý Hà Nội (Socíete de Géographie)…Tại đây, các nhà chuyên môn đã khai thác triệt để lợi khí của nhiếp ảnh vào công tác điều tra, khỏa cứu, tạo nên những trung tâm lưu trữ tư liệu ảnh quan trọng. Trong đó sử dụng cả  không ảnh (chụp từ máy bay, từ năm 1923), nhiều bộ sưu tập hiện vẫn được lưu trữ tốt tại Pháp.

Vào thập niên 1920, sau khi thế giới đã phát minh ra kỹ thuật ảnh màu (autochrome Lumìere) thì những tấm ảnh màu đầu tiên chụp ở Việt Nam đã được thữc hiện theo ý muốn của một nhà chơi ảnh giàu có ở Pháp: Albert Kahn. Với sự đầu tư của Albert, hàng vạn tấm ảnh màu được được chụp tại nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, công việc được giao cho một viên sĩ quan quân đội Pháp đã chụp hàng trăm vức ảnh màu. Toàn bộ số ảnh hiện được lưu giữ tại Bảo tàng mang tên A. Kahn ở Paris hay còn gọi là “Thư khố hành tinh” (Archive de Planète).

Đến những năm 1930 thì lỷ thuật chụp ảnh màu đã được cải tiến và đã có người Việt Nam sử dụng (Nguyễn Văn Khải). Lúc này đội ngũ những nhà nhiếp ảnh Việt Nam nghiệp dư cững như nhà nghề đã hình thành với những tên tuổi như Khánh Ký, Hương Ký, Võ An Ninh, Nguyễn Bá Khoản. Các thiết bị, vật liệu liên quan đến nhiếp ảnh qua con đường thương mại được nhập vào nước ta, tiêu biểu là các hãng Kodak, Pathé…

Nhắc lại đôi nét về lịch sử nhiếp ảnh ở Việt Nam, chúng tôi nhằm lưu ý về các nguồn sử liệu bằng ảnh đã từng có và đến nay có thể khai thác được như những nguồn sử liệu để hiểu biết quá khứ. Đới với những tư liệu trước năm 1945, bên cạnh đóng góp của một đội ngũ chưa đông những nhà nhiếp ảnh Việt Nam, chúng ta cần chú ý và đáng giá cao những nguồn sử liệu ảnh của người nước ngoài, đặc biệt là của người Pháp dù xuất phát từu nhiều mục đích khác nhau nhưng đều có giá trị quý giá về sử liệu.

Với sự ra đời của nhà cách mạng (1945), nhiếp ảnh đã trở thành một vũ khí sắc bén thực hiện những nhiệm vụ chính trị và văn hóa. Đội ngũ những nhà nhiếp ảnh cũng như các cơ quan sử dụng và khai thác nhiếp ảnh ngày càng trưởng thành và có đầy đủ ý thức về chức nghiệp của mình là phản ánh hiện thực cuộc sống xây dựng và chiến đấu của đất nước, người nhiếp ảnh vừa là nghệ sĩ, vừa là chiến sĩ…Hơn thế nữa, cũng như người viết báo là người chép sử đương đại thì những nhà nhiếp ảnh nếu ý thức được giá trị của những bức ảnh chụp giành cho tương lai thì họ cũng xứng đáng là những người chép sử bằng hình.

Giờ đây, nói đến tội ác của chủ nghĩa phát xít Nhật gây nên nạn đói Ất Dậu không thể không sử dụng những tấm ảnh quý của Võ An Ninh, nói đến cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của Hà Nội sau Toàn quốc kháng chiến, không thể không nói đến những tấm ảnh của Nguyễn Bá Khoản, về Điện Biên Phủ là Triệu Đại và về những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng như công cuộc xây dựng đất nước với rất nhiều tên tuổi của các nhà nhiếp ảnh đương đại./.

Cập nhật ( 19/12/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online