Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Nói chữ trong ca dao Nam bộ (Lê Xuân)
Nói chữ trong ca dao Nam bộ (Lê Xuân) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
20/05/2009

“NÓI CHỮ” TRONG CA DAO NAM BỘ

* Lê Xuân

Phương nam là một vùng đất mới, được hình thành trên dưới ba năm nay từ khi các chúa nguyễn mở mang bờ cõi. Nơi đây con người được thiên nhiên ưu đãi “Cá tôm sẳn bắt, lúa trời sẳn ăn”, nên rất hào phóng và hiếu khách, thương người. Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có các dân tộc anh em cộng cư: Việt, Hoa, Khơmer, Chăm...Và ngay người Việt cũng là dân “Tứ Chiếng” ở nhiều miền hợp lại. Các cư dân này điều mang tính chất chung là: thẳng thắn, bộc trực, trọng nghĩa khinh tài, thích kể truyện Tàu, mê hát cải lương và rất thích nói thơ Vân Tiên. Tính cách ấy đã in dấu ấn đậm nét trong văn học dân gian Nam bộ nói chung và ca dao nói riêng. Song, có một yếu tố dễ khu biệt giữa ca dao Nam bộ với ca dao ở miền Bắc và miền Trung là ca dao Nam bộ có số lượng dùng từ Hán rất nhiều, nhất là trong mảng ca dao về đề tài tình yêu đôi lứa.

Như chúng ta đã biết trong việc mở rộng địa bàn của các chúa Nguyễn thường kéo theo nhiều lớp người: có tầng lớp quan lại, sĩ phu được học chữ Hán (còn gọi là chữ Nho hay chữ Tàu) – chữ của Thánh hiền; có những tù binh bắt được trong chinh chiến; có tội đồ đi đày, và có cả những lãng tử muốn thỏa chí tang bồng... Và họ đã “Gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân” (Nguyễn Khoa Điềm), gánh theo cả “ca dao và thần thoại” cả những phong tục tập quán của các vùng quê. Ở vùng đất mới này các cư dân dã có sự giao lưu văn hóa và chung lưng đấu cật để sản xuất, chiến đấu, xây dựng cuộc sống. Họ cũng sớm được tiếp súc với các dòng văn hóa do các thương gia Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, In – Đô – Nê - Xi – a mang tới giao lưu buôn bán và các giáo sĩ phương Tây tới truyền đạo Thiên Chúa. Đặc biệt sự ảnh hưởng qua lại của người Việt vốn có từ lâu đời nên các yếu tố Hán càng đậm nét trong sinh hoạt thường nhật. Chữ Hán đã được ông cha ta dùng làm văn tự suốt mấy thế kỷ trước khi chữ Nôm và chữ Quốc ngữ xuất hiện, nhiều người không biết chữ vẫn có thể đọc thuộc và hiểu nghĩa một số câu danh ngôn, ngạn ngữ bằng từ Hán như. “ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” hoặc “nhân chi sơ tính bản thiện”...

Tình yêu vốn là đề tài vĩnh cửu của thơ, ca, nhạc, họa của mọi dân tộc trên trái đất này. Và ca dao chính là “cây đàn muôn điệu” của tâm hồn người Việt Nam với nhiều cung bậc: ái, ố , hỷ, nộ... ca dao Nam bộ cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Hãy lắng nghe ;một câu hò mang tính “Thăm dò” của chàng trai đối với một cô gái như đã có duyên với nhau từ kiếp trước:

Hò ơ...ơ... Bâng khuân bát ngát, câu hát hữu tình

Phải duyên tiền định, hai đứa mình thương nhau

Cô gái cũng tỏ ra một người có học, đã vận dụng khéo léo câu ngạn ngữ từ Hán để đáp lại, vừa bộc lộ lòng mình vừa có ý khuyến cáo chàng trai:

Hò ơ...ơ... Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

Vô duyên đối diện bất tương phùng.

Anh có thương em thì duyên kết cho cùng

Chớ đừng thương vội rồi nữa chừng bỏ em”.

Trong chặng hát mở đầu, bao giờ hai bên cũng đưa ra những câu “dò bụng” nhau, nhắc nhở nhau như thế:

Hò ơ...ơ... Họa hổ, họa bì, nan họa cốt tri nhân, tri diện, bất tri tình.

Dẫu ai dèm xiễm hai đứa mình cũng đừng xa”.

Trong cuộc thế không phải cuộc tình nào cũng êm chèo mát mái, vì vậy người nữ bao giờ cũng suy nghĩ đắn đo khá kỹ để có thể trao thân gửi phận, nhưng có khi cũng bị “bé cái nhầm”:

Hò ơ...ơ....Họa hổ, họa bì, nan họa cốt

Tri nhân, Tri diện bất tri Tâm.

  Ở xa không biết thì lầm

Bây giờ rõ đặng vàng cầm cũng buông”.

Chàng trai đã vội thanh minh và bộc lộ rõ ý định của mình:

Chữ rằng: “họa, phước vô môn”

Sang giàu dễ kiếm, người khôn khó tìm”.

Khi than thân trách phận vì “cái nghèo” mà mình không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng lý luận đầy “chữ nghĩa”:

Ngọc bất trác, bất thành khí

Nhân bất học bất tri lý

Vì bởi anh nghèo nên chịu chữ ngu si

Phải chi anh đây có của thì thua gì hãy em”.

Nhìn chung từ Hán đã trở thành “nói chữ” hết sức tự nhiên trong ca dao Nam bộ. Các từ Hán ngữ “phu thuê”, “phu phụ”, “cang cường”, “chung thủy”, “nam thanh, nữ tú”, “tương ngộ, tương phùng”, “Hữu duyên”, “vô duyên”, “tiền định”, “tiền kiếp”, “hậu vận”,... trong các câu ca dao Nam bộ đọc lên ai cũng hiểu, nó như đã được “Việt hóa” trong cách cảm và nghĩ của người bình dân. Một số câu danh ngôn, ngạn ngữ, điển tích, điển cố bằng từ Hán nhiều người không biết chữ vẫn có thể hiểu như: “Họa hổ, họa bì, nan họa cốt/ Tri nhân, tri diện, bất tri tâm” (vẽ hổ, vẽ da, khó vẽ xương/ Biết người biết mặt không biết lòng), hay “Hữu duyên năng thiên lý năng tương ngộ/ Vô duyên đối diện bất tương phùng” (Có duyên thì xa ngàn dặm vẫn có thể gặp nhau/ Không có duyên thì dù có giáp mặt nhau cũng không hợp), hoặc “đồng sàng dị mộng” (cùng giường, khác mọng), hoặc các điển tích bên tàu như: “Bá Nha – Tử Kỳ” để chỉ tình bạn tri âm tri kỷ, “Quản Trọng – Bảo Thúc”chỉ sự giúp đỡ, tiến cử nhau của những người bạn thân... Phần lớn các điển cố, điển tích ở những câu ca dao có dùng từ Hán, các tác giả dân gian (thường là người có học) hay mượn ở truyện Tàu như

 Tam quốc diễn nghĩa”, “Hồng lâu mộng”, “Thủy hử”, “sử ký”, “Tây sương ký”, “kinh thi” hoặc trong các truyện thơ của văn học Việt Nam như “Lục Vân Tiên “Chinh phụ ngâm”, “cung oán ngâm khúc”, “Nhị độ mai”... Nhờ những từ Hán mang nét nghĩa tương đối ổn định nên nhiều câu ca dao có được cái “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) làm cho nội dung diễn đạt sâu sắc hơn so với các câu ca dao thuần Nôm. Trên bước đường Việt hóa các yếu tố ngoại lai, cùng với sự phát triển về ngôn ngữ, chữ viết, sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng người Việt nói chung và của các dân tộc anh em ở Nam bộ nói riêng, một bộ phận các câu ca dao sử dụng từ Hán ở Nam bộ ngày càng ít đi.

Ca dao – dân ca là một phần hồn dân tộc, là hơi thở của cuộc sống người bình dân, là nguồn sữa ngọt lành nuôi dưỡng văn học thành văn, là điệu đàn không bao giờ tắt, mãi mãi làm rung động lòng người bao thế hệ, Mảng ca dao Nam bộ về đề tài tình yêu đôi lứa có dùng từ Hán cũng chứa đựng hàm nghĩa ấy. Và nó đã ăn sâu vào tâm thức con của cư dân vùng đất “chín rồng” “Từ độ mang gươm đi mở cõi” (Huỳnh văn nghệ). Vì thế nó làm phong phú hơn sự đa thanh, đa sắc vườn hoa văn nghệ dân tộc. Nó còn có ý nghĩa khu biệt và nhận dạng về văn học dân gian, về tính cách con người về một vùng đất mới./.

Cập nhật ( 20/05/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online