Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Để dạy tốt Hán Việt (Lê Xuân Mậu)
Để dạy tốt Hán Việt (Lê Xuân Mậu) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
22/06/2009

ĐỂ DẠY TỐT HÁN VIỆT

* Lê Xuân Mậu

Việc dạy ngôn ngữ ở bậc phổ thông thường xuyên phải đụng chạm đến từ HV (HV). Ở cấp trung học cơ sở, còn có những giờ dạy về các yếu tố HV nữa. Trừ một số ít được học hỏi và tích lũy ít nhiều về khối từ HV này, phần đông anh chị em đều ít nhiều lúng túng. Đã có nhiều bài báo viết xung quanh khối từ chiếm tỉ lệ khá cao vá có nhiều mắc míu này. Có những bài viết đưa ra những yêu cầu cao như phải biết chữ Hán mới hiểu đúng và dạy tốt loại từ này. Và có nhiều bài bắt bẻ hết sai phạm này đến sai phạm khác so với vở sách xưa. Tất cả làm cho người ta chưa nói đã sợ lầm, chưa giảng đã sợ sai!

Chúng tôi nghĩ đến một yêu cầu thích hợp hơn, vừa sức hơn với số đông anh chị em giáo viên phổ thông ta trong việc chuẩn bị cho mình một hành trang cần thiết để làm việc và giảng dạy với khối HV này. Đó là việc tự trang bị những hiểu biết cơ bản về khối từ này với quan điểm ngôn ngữ học để sử lí trong thực tế. Cụ thể là:

-         Nhận diện rõ từ HV.

-         Những đặc điểm NNH cần chú ý về lớp từ HV.

-         Những biến đổi tự nhiên trong quá trình Việt hóa.

-         Các thủ thuật tìm nghĩa.

Xin được trình bày một số điều cần quan tâm

I.Thế nào là từ Hán Việt

1. Từ HV là tên thường gọi những từ ngữ Việt gốc Hán được đọc theo âm HV – một hệ thỗng ngữ âm hình thành ở ta thời nhà Đường đô hộ,khác với hệ thống ngữ âm ở các địa phương Trung Quốc và các nước Nhật, Triều Tiên. Dùng âm HV có thể đọc tất cả chử Hán nhưng chỉ những từ người Việt mượn mới được coi là từ HV.

Do đó có rất nhiều từ, ngay cả ở Từ điển HV Đào Duy Anh cũng chỉ là từ Hán. Các từ đối phương, đại phu, quy khuyến, lạc đệ…là từ Hán mà ở tiếng Việt hoặc có nghĩa khác (đối phương là người phía khác có đối địch) hoặc là từ khác (bác sĩ, khuyên bảo, thi trượt).

Biết điều này sẽ không làm như ở một sách dạy mở rộng từ tổ quốc với các từ quốc giao, quốc sĩ, quốc sắc, quốc khố,quốc khánh nhật…(trong khi không còn chọn quốc kì, quốc hung, quốc sách, cứu quốc, đế quốc, vương quốc…).

2. Cũng nên biết rằng một chữ Hán có thể được mượn từ tiếng Việt với các hình thức khác nhau: âm HV, âm Hán cổ, âm khẩu ngữ địa phương.

Ví dụ: Âm HV:

phòng – buồng (Hán cổ)

bổn – vốn (có biến dạng sau Đường)

chính – chánh (Minh Thanh)

vũ thuật - ủ su (Bắc Kinh)

3. Cũng không thể coi một số từ cấu tạo bằng từ số HV: cứu cánh (với nghĩa cái cứu giúp), đài trang (đảo trật tự của trang đài). Bởi vì gốc gác Hán của các từ đó là rõ. Và coi là từ HV cũng có gì là “phạm thượng” đâu! Nói cho cùng từ HV là từ Việt cả thôi, gọi là từ HV là để có sự chú ý nào đó khi tìm hiểu mà thôi (1).

II. Đặc điểm của từ Hán Việt

1.Về mặt hệ thống ngữ âm, từ HV gần trùng khớp với hệ thống ngữ âm tiếng Việt(2). Chính vì thế về thực chất từ HV là phiên âm từ gốc Hán nhưng ta không thấy xa lạ. Đó là mặt thuận lợi trong việc mượn từ Hán nhưng cũng dễ bị lạm dụng. Có người cứ phiên âm bác sĩ,  khống chế luận mà tưởng là đã dich (!), trong khi phải dịch là tiến sĩ, điều khiển học.

Tiếng Hán có rất nhiều từ đồng âm. Khi đọc, viết chữ Hán còn dễ nhận ra, giờ viết chữ “quốc ngữ” thì rất khó phân biệt. Chỉ xin dẫn ra chữ tôn sư. Có đến 3 từ ngữ khác nhau:

Tôn sư 1 = người thầy (sư) của tôn (tông) phái.

Tôn sư 2 = người thầy (sư) đáng tôn kính (lời gọi trân trọng)

Tôn sư 3 = tôn trọng thầy (sư) như “tôn sư trọng đạo”

Chính vì hiện tượng này mà nhiều từ HV bị lầm nghĩa và rồi do áp lực ngữ nghĩa của từ tố quen thuộc hơn nhiều từ đã mang nghĩa mới. Đó là các trường hợp cứu cánh, hậu tạ, chính kiến, dã tâm v.v.

Cũng cần nói về hiện tượng một chữ nhiều âm, có khi

đến ba bốn âm. Canh (sủa đổi) và cánh (một lần nữa) viết cùng một chữ nên đã đọc lầm “tự lực canh sinh” thành “tự lực cánh sinh”(canh sinh = sống lai   phục hưng). Trong văn viết, các chữ hai âm kiểu thôi và suy, tùy văn cảnh mà đọc khác nhau rất khó! (3) Vì vậy không nên lấy làm lạ khi nhiều từ bị phiên âm lầm rồi được chấp nhận tiếng Việt.Đó cũng là chuyện thường thấy trong việc phiên âm tiếng nước ngoài.

          2. Về ngữ nghĩa, hiện tượng nhiều nghĩa của các từ tố Hán cũng không khác ở ngôn ngữ khác. Nhung khi trở thành từ HV, nghĩa nó đã bị thu hẹp lại vì nhiều nghĩa không được mượn vào tiếng Việt. Có tác giả đã thống kê rõ trong số 344 đơn vị từ HV có đến 73 trường hợp nghĩa bị thu hẹp.(4)

Cùng với những biến đổi khác, việc hiểu và giải nghĩa từ HV cũng không thể chỉ đơn giản dựa vào những từ điển HV – nhất là những từ điển làm ra cách nay mấy chục năm.

Mặt khác cũng cần chú ý đến hiện tượng đồng nghĩa khá phổ biến ở từ Hán, rất khó phân biệt ngay cả ở người Hán.Cũng như vậy còn có hiện tượng nghĩa ở từ Hán đã biến đổi theo thời gian mà ở từ HV lại vẫn dùng nghĩa cũ. Ví dụ vài trường hợp:

tẩu: chạy (HV) – đi (Hán)

khoái: vui (HV) – nhanh (Hán)

3. Về đặc điểm cấu tạo

Cùng với cấu tạo ngược trong từ ghép chính phụ kiểu Hán mà nhiều người thường nhấn mạnh, cần để ý những trường hợp cấu tạo xuôi theo kiểu Việt ở ngay các từ gốc Hán và các cấu tạo ngang.

Các từ cấu tạo ngược là các danh từ với phụ tố đứng trước, chính tố đứng sau. Các từ ghép kiểu này ở gốc Hán tạo thành những từ HV có hình thức cố kết chặt chẽ và nghĩa cũng đặc biệt. Nhiều trường hợp ta tưởng có thể đảo trật tự để có từ Việt tương đương nhưng không hẳn thế vì cấu trúc hai ngữ tố này kiểu Việt có tính lỏng lẻo hơn nên phạm vi sử dụng cũng hẹp hơn. Ví dụ cao điểm – điểm cao, không thể nói “giờ điểm cao”.

Các từ cấu tạo xuôi là những từ ghép chính phụ dạng động, tính từ + phụ tố bổ nghĩa: ái quốc, cầu an, bảo mạng, cố hữu…

Dạng cấu tạo ngang là dạng ghép hai từ tố có quan hệ bình đẳng. Các dạng này có thể đảo trật tự và nhiều trường hợp tạo ra các từ ghép sắc thái nghĩa khác nhau. Có thể so sánh lai vãng và vãng lai. Cả hai cùng có nghĩa “qua lại” (không ở lâu) nhưng lai vãng còn là động từ mà vãng lai đã tính từ hóa (khách vãng lai, tài khoảng vãng lai).

Nắm được những đặc điểm cấu tạo này ta sẽ dễ dàng hơn trong việc hiểu và giải nghĩa, đồng thời chủ động tham gia Việt hóa các từ HV bằng những phương thức phù hợp.

III. Những biến đổi tự nhiên trong quá trình Việt hóa

Cả ngàn năm gia nhập cộng đồng tiếng Việt, khối từ HV đã có nhiều biến đổi rất quan trọng về cả ngữ âm – ngữ nghĩa và cấu tạo.

1.     Những biến đổi và ngữ âm

Xin không nói thêm về những trường hợp biến đổi ngữ âm đã nêu:

-         một chữ hai ba âm.

-         Biến thể Đường âm và sau đó, nhất là là ở miến Nam thời Minh, Thanh.

-         Biến thể do kiên kị, do đọc lầm.

Chỉ xin nói về những trường hợp biến âm không được các vị túc nho thừa nhận:

sáp/sát nhập, tham/thăm quạn, vãng/vãng cảnh, đào/đảo ngũ, mại/mãi dâm…

Đây là những biến đổi ngữ âm bị coi là nhầm lẫn do không biết tiếng Hán mà ra. Chúng tôi đã có một loạt bài lí giải hiện tượng này. Nay xin được tóm tắt lại các lí do đã nêu rải rác.

- Có những biến đổi do quy luật đồng hóa/dị hóa. Ví dụ: thiền/thuyền quyên, vãng/vãn cảnh, sáp/sát nhập.

- Có những biến đổi do áp lực ngũ nghĩa và xu hướng gán nghĩa kiể bình dân: tham/thăm quan; đảo/đào ngũ; sáp/sát nhập.

- Có những trường hợp tiếng Việt không có nhu cầu mượn sự đối lập ở tiếng Hán nhu khuyến mại/mãi.

Và có những biến đổi khó giải thích được rõ ràng như điền kính/kinh, huyễn/ảo giác, hằng/hàng. Những biến đổi này lúc đầu thường gây cảm giác khó chịu đối với những người thông thạo chữ nghĩa. Cảm giác với Thăm quan phong phanh hiện nay chắc cũng đã có ở nhà nho khi xưa gặp những biến đổi như: thiền/thiền quyên, sáp/sát nhập…Nhưng rồi vì nhiều lí do số đông trong cộng đồng sử dụng ngôn ngữ Việt đã chấp nhận thì rồi mọi người cũng phải chấp nhận thôi. Nay khó ai có thể “kiên quyết” dùng điền kính, phân nạn (phàn nàn), huyễn giác cho đúng chữ thánh hiền.

2.     Những biến đổi về ngữ nghĩa

Qúa trình du nhập hàng ngàn năm vào tiếng Việt, không thể không có sự biến đổi ngữ nghĩa ở các từ HV, có tác giả đã thống kê 334 đơn vị, thấy được những biến đổi khá rõ:

-         31 trường hợp phát triển nghĩa.

-         12 trường hợp khác nghĩa (6).

Chúng tôi thấy tỉ lệ sự biến đổi phong phú. Xin nhắc qua các từ ngữ có nhiều nghĩa mà tiếng Việt chỉ mượn một vài nghĩa hoặc thu hẹp phạm vi sử dụng một nghĩa gốc. Trường hợp rút tỉa nghĩa này là bình thường với đa số từ mượn không riêng ở tiếng Việt. Chỉ xin chú ý thêm là trong quá trình sử dụng, các từ HV này thường có thêm những sắc thái trang trọng chỉ có ở tiếng Việt (do đối lập với từ thuần Việt đồng nghĩa) hoặc sắc thái tốt xấu, đùa cợt (ví như: đắc chí, đắc thắng, đắc tội).

Trường hợp mở rộng nghĩa cũng đã được nói nhiều. Chỉ xin chú ý rằng khá nhiều trường hợp sự mở rộng nghĩa này chứng tỏ trình độ Việt hóa cao của HV ấy. Chúng đã hoạt động như các từ Việt  với những quy tắc chuyển loại, chuyển nghĩa phù hợp.

Ví dụ: công phu từ nghĩa “thời gian, sức lực bỏ ra (nhiều) để làm việc “đã chuyển sang nghĩa “rất tốn công sức và thời gian”.

hách dịch: to lớn nổi bật có uy danh – tỏ ra nổi bật và có uy quyền.

Qủa với nghĩa mở rộng chỉ vật dụng bằng gỗ đựng đồ lễ.

Xin được nói nhiều đến các trường hợp biến đổi về ý nghĩa chưa được nhìn nhận thống nhất. Đó là những trường hợp nghĩa mới xa hẳn nghĩa gốc. Khá nhiều chữ nghĩa kiểu này bị kêu ca, nhẹ thì coi là lầm, nặng thì bảo là dốt. Thực tình nói thế cũng không quá lời lắm do không có sự tôn trọng cấn thiết với các quy luật biến đổi ngữ nghĩa do những áp lực nào đó.

 Có thể có sự xa nghĩa gốc do áp lực của các đồng âm quen thuộc. Chính kiến = “ý kiến, quan điểm chính trị” – “mục đích cuối cùng” – “cái cứu giúp mình”.

Có thể do một yếub tố mất nghĩa kiểu trầm kha (bệnh nặng) chỉ còn nghĩa trầm trọng (nói về bệnh).

Có thể do áp lực kết cấu xuôi và ngang ở tiếng Việt mà nghĩa khác đi. Ví như cảm quan gốc là “cơ quan cảm giác” nhưng nghĩa mới là “cảm nhận bằng quan sát”. Quan chức: chức quan – người giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước. Hoặc độc hại là “làm hại bằng chất độc” biến thành “độc và hại”.

Lại còn có những biến đổi nghĩa do nói tắt qua một bước trung gian nào đó. Có thể kể một số dẫn chứng:

thổ (đất) – thổ cư – thổ = đất ở

tư vấn (hỏi) – Hội đồng tư vấn = hội đồng để chính phủ hỏi ý kiến, hội đồng góp ý kiến cho chính phủ - tư vấn = góp ý kiến.

Tồn tại (còn lại) – vấn đề tồn tại = những yếu kém còn lại chưa được khắc phục – tôn tại = khuyết điểm yếu kém chưa được sửa chữa.

Vô tư lự = không suy nghĩ, lo lắng – vô tư = không phải suy nghĩ, lo lắng gì. Cá nhân – cá nhân chủ nghĩa – rút gọn thành cá nhân là tính cách kẻ chỉ chú ý đến cá nhân mình.

Những biến đổi về nghĩa kiểu này có thể là những nhầm lẫn ban đầu nhưng có nhiều trường hợp không phải thế mà ta đếu có cơ sở về ngôn ngữ học để chấp nhận.

Những áp lực đã nêu trên thỏa mãn nhu cầu tìm cơ sở ngữ nghĩa cho những từ khó hiểu của người bình dân ít học nên được họ thừa nhận. Và cũng như mọi từ ngữ được số đông chấp nhận (với cái “lí” của nó) nó đã hoặc sẽ đẩy lùi ngĩa cũ. Qúa trình biến đổi nghĩa của tử tế, khốn nạn, dã man… cũng là thế. Đương nhiên có thể trong một thời gian chưa dài nghĩa cũ có thể vẫn còn có người sử dụng với một sự đối lập mang tính bác học: từ có nghĩa cũ mới là từ HV còn từ có nghĩa mới là từ thuần Việt (!) sẽ song song tồn tại. Thật ra thời gian sẽ cho thấy ít người còn muốn dùng cứu cánh để diễn đạt “mục đích cuối cùng” nữa vì nó dễ gây “hiều lầm” ở người đọc mà người viết lại hoàn toàn có thể dùng từ khác thay thế. Về những biến đổi ngữ nghĩa, phải nói thêm rằng một khả năng tạo từ mới của tiếng Việt là dùng yếu tố HV như các yếu tố tạo từ thuần Việt để tạo từ mới gồm HV + HV hay HV + TV như khởi tranh,vấn nạn, kết tủa, ngói hóa, lành tính… Vói những trường hợp này thiết nghĩ cũng nên coi là bình thường như với tất cả các từ mới do các yếu tố TV tạo ra. Chỉ nên xét nó trên cơ sở đánh giá tính chất rõ ràng về nghĩa, chặc chẽ về cấu tạo và hệ thống, hoặc về tính thẩm mĩ…Chẳng nên khắc khe đòi hỏi nó có phải có gốc Hán hay không, có đồng âm với một gốc Hán nào không… Nên thấy rằng nhờ cách làm này ta đã rút gọn nhiều từ Hắn cũ mới thành từ HV của ta: lang bạt kì hồ - lang bạt; nghiên thảo hội – hội thảo, kích thích nhu cầu – kích cầu. Và ta cũng Việt hóa nhiều từ bằng dịch một yếu tố: nhược điểm – điểm yếu, an dưỡng đường – nhà an dưỡng…

3.     Những biến đổi về cấu tạo các phần trên đã có dịp đề cập xin không nhắc lại nhiều. Chỉ xin tóm tắt:

- Rất nhiều từ cấu tạo ngược đã có độ biến đổi trật tự phù hợp với tư duy và ngữ pháp Việt. Tuy nhiên không hẳn sự đảo trật tự nào cũng tạo ra các từ ghép kiểu Việt đồng nghĩa. Nhiều từ đã có những nghĩa hẹp đi hoặc sắc thái khác hẳn. Ví dụ: cao điểm và điềm cao đã nêu hoặc biến chuyển và chuyển biến.

Với các từ cấu tạo xuôi hay ngang cũng thế. Việc đảo trật tự có thể đem lại một nghĩa mới như lai vãng và vãng lai đã nêu. Với những từ ghép bốn âm tiết cũng vậy. Việc giữ nguyên hay đảo trật tự cũng tạo ra ở tiếng Việt những đơn vị không đồng ngĩa: chủ yếu tự do và tự do chủ nghĩa có nghĩa khác nhau.

IV. Để dạy tốt từ Hán Việt

Để dạy tốt từ HV, người giáo viên không thể không tìm hiểu cách giải nghĩa lớp từ này. GS Phan Ngọc đã viết cả một cuốn sách về vấn đề này “Mẹo giải nghĩa từ HV”. Xin nêu lại vấn tắt vài cái “mẹo” trong cuốn sách lí thú ấy.

1.     Phải chia các từ tố HV (âm tiết) ra làm mấy loại.

a)Loại A là loại từ đã Việt hóa hoàn toàn có thể dùng độc lập (từ đơn tiết), không có đơn vị đồng nghĩa tuyệt đối ở khối từ thuần Việt (từ các từ cổ, từ địa phương) có đến 1200 từ như các từ đầu, thánh hiền…đã nêu ở trên.

Với loại này, ta chỉ cần đưa ra “cái quy chiếu” (hình ảnh, sự vật thực tế…) không cần phải giảng giải. Thực tế qua nhiều khảo sát (như của tác giả Nguyễn Nhã Bản, học sinh cũng ít lầm lẫn về loại từ HV này. Cũng có điều cần chú ý rằng nhiều từ đơn Việt hòa này nghĩa đã khác ít nhiều với từ gốc: thổ = đất – đất ở, cập = tới, đến – (tàu thuyền) đến bến, áp sát bờ để khách và hàng lên xuống.

b. Rất nhiều âm tiết loại B không đứng độc lập mà chỉ tồn tại trong các từ ghép như thiên (thiên địa), địa, (đạo đạo), trọng (trọng lượng). Với những từ loại này, khi tìm hiểu nghĩa ta cần chú ý:

- Phân biệt âm tiết này thuộc oại B với loại A như với trọng (trọng lượng) cần phân biệt với âm tiết trọng thuộc loại A (nghĩa “coi trọng”).

- Đặt âm tiết này trong một loạt từ ghép có nó, so sánh để các từ ghép phù hợp tìm ra “nét nghĩa chung” do từ tố này đem lại. Ví dụ: gặp từ quy phạm dùng trong văn bản pháp luật, ta có thể liên hệ quy trong “quy phục”, “quy nạp”, “quy ước”, “quy định”, “quy củ”, “quy chế”… nét nghĩa “gom lại” trong 2 từ đầu không hợp, các từ sau có nét nghĩa chung là “khuôn phép” hợp hơn. Với từ tố phạm có thể liên hệ “phạm pháp”, “phạm nhân”, “mô phạm”, “sư phạm”, “phạm vi”, ta thấy nét nghĩa: “làm trái”, mắc phải” ở hai từ đầu không hợp, nét nghĩa “khuôn phép, mẫu mực” ở các từ sau hợp hơn. Do đó cái nghĩa đại khái của quy phạm là hkuôn phép, chuẩn mực, điều quy định có tính chuẩn mực phải tuân theo (đương nhiên, không thể áp dụng với các từ đã có sự biến nghĩa…).

c) Có rất nhiều âm tiết loại C trong  các từ song tiết không độc lập (như B) cững không phải là hình thức láy của âm tiết kia nhưng nghĩa thì không rõ ràng. Ở các từ TV có những từ như  (gà) qué, (già) tom, (cũ) rích, người ta coi là âm tiết mất nghĩa.

Với những âm tiết HV như thế (thường cũng ít ) mà đi sau danh từ hoặc tính từ như (trầm) kha. GS Phan Ngọc Khuyên chỉ nên coi như các mẫu (gà) qué, (già) tom và chỉ cần quan tâm đến nghĩa từ tố đầu. Ví nhu cấu trệ, châm biếm. (7)

Theo tôi hiểu, không chỉ các từ tố đi sau mới ‘ mất nghĩa” (thuộc loại C ) mà rất nhiều từ tố đi trước cũng khó mà giải nghĩa rõ từng từ tố và ta cũng đành hiểu nghĩa cả khối thôi. Chỉ riêng ở vần B trong Từ điển HV (Phan Văn Các) cũng ncó thể kể ra cả chục âm tiết loại C đi trước và đi sau: ba (tiêu), bàn (hoàn), bàng + bạc, bàng (hoàng), bàng (quang), (hoài) bão…

Những âm tiết C này rất dễ bị biến âm, biến nghĩa kiểu như tiêm tất – tươm tất, trầm kha – trầm trong (nói về bệnh)

d) Cuối cùng GS Phan Ngọc cũng khuyên ta nên coi một số từ song tiết có nguồn gốc phức tạp như kiểu hi sinh như những từ phiên âm, chẳng cần quá cầu kì tìm nghĩa từng từ tố làm gì. Chúng tôi cũng nghĩ như vậy với các từ như xã tắc, kinh luân, kinh tế… Đương nhiên có điều kiện tra cứu các từ điển, các sách văn liệu để hiểu sâu cáng tốt nhưng không nên giảng giải kĩ lưỡng làm gì cho… mệt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ CHÚ THÍCH       

(1) GS Nguyễn Kim Thản đã từng nêu ý kiến phê phán sự thiếu khoa học của thuật ngữ này.

(2) Có hiện tượng gần trùng khớp giữa hai hệ thỗng ngữ âm là do trong mấy thế kỉ tiếp xúp tiếng Hán, tiếng Việt có sự “tự đổi mới” về ngữ âm. Đồng thời người Việt cũng sửa đổi hệ thống ngữ âm Hán cho phù hợp với người Việt (xem “Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc HV” của GS Nguyễn Tài Cẩn).

(3) Xem Đào Thái Tôn và Nguyễn Quãng Tuân tranh luận về mấy từ này trong “văn bản chuyện Kiều – nghiên cứu và thảo luận” (các trang 330 – 331, 342 – 347, 354 – 355 và 370 – 372).

(4) Vũ Thị Kim Hoa: Từ ghép HV những biến đổi về ngữ âm, cấu tạo, ngữ nghĩa so với từ ghép Hán tương đương (NN 7/2001)

(5) Những từ tố song tiết có thể đảo được thường là các từ cấu tạo bằng âm tiết loại A (có nghĩa, dùng độc lập) còn các từ cấu tạo bằng hai từ tố HV (không có khả năng độc lập) thường khó đảo trật tự.

(6) Vũ Thị Kim Hoa: Bài đã dẫn.

(7) Biếm ở đây là châm mũi đá để chữa bệnh, khác với biếm ( trong biếm họa) nghĩa là chê bai.

Cập nhật ( 22/06/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online