Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow An Dương Vương và nước Âu lạc (Nguyễn Anh Hùng)
An Dương Vương và nước Âu lạc (Nguyễn Anh Hùng) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
22/06/2009

AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ SỰ THÀNH LẬP NƯỚC ÂU LẠC

* Nguyễn Anh Hùng

Thời An Dương Vương – được coi như một giai thoại của thời đại dựng nước đầu tiên, với nhân vật An Dươg Vương nổi tiếng và nhà nước Âu Lạc khá hùng mạnh – cho đến nay vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ, cần tiếp tục được khám phá, tìm tòi. Bí ẩn lớn nhất là vấn đề gốc tích An Dương Vương và sự thành lập nước Âu Lạc…

Quan niệm truyền thống

Theo tại liệu cổ sử của Việt Nam và Trung Quốc, phù hợp với những truyền thuyết dân gian phổ biến, thì tiếp theo sau nước Văn Lang (quốc gia đầu tiên trong lịch sử nước ta) thời Hùng Vương, là nước Âu Lạc đời An Dương Vương.

Những bộ sử cổ nhất của Trung Quốc đều xác nhận sự tồn tại của An Dương Vương và nước Âu Lạc. Sử ký của Tư Mã Thiên – viết vào khoảng thế kỷ I trước Công nguyên (TCN) – nhiều lần nhắc đến nước Âu LẠc ở phía Tây nước Nam Việt của Triệu Đà, sau bị Nam Việt thôn tính. Chi tiết đó cũng tìm thấy trong bộ Tiền Hán thư do Ban Cố biên soạn vào thời Đông Hán. Tiếp theo, các tịch thư cổ khác của Trung Quốc như Giao Châu ngoại vực ký (thế kỷ IV, dẫn lại trong Thủy kinh chú thế kỷ VI), Quảng Châu ký (thế kỷ V, dẫn lại trong sử ký sách ấn thế kỷ VIII)…đều ghi nhận danh hiệu An Dương Vương và cuộc xung đột Âu Lạc – Nam Việt. Riêng Quảng Châu ký còn cho biết thêm: nước Âu Lạc của An Dương Vương sau bị Triệu Đà chia làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân.

Ở nước ta, những truyền thuýêt dân gian về An Dương Vương cũng sớm được tập hợp trong Truyện Rúa Vàng và Lĩnh Nam chích quái. Việt sử lược thời Trần cùng những bộ sử lớn khác thời Lê, Nguyển đều có sự thống nhất trong ghi chép về An Dương Vương và nước Âu Lạc. Sự ghi chép này dực vào các tài liệu cổ sử kết hợp với một số truyền thuyết dân gian, nên vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính truyền thuyết – huyền thoại (nhưng so với những ghi chép về thời Hùng Vương thì tính chất lịch sử ngày càng đậm nét hơn).

Các thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian chho phép khẳng định rằng: nước Âu Lạc và nhân vật An Dương Vương (Thục Phán) cho đến nay vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa sáng tỏ, trước hết là vấn đề gốc tích Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc.

Giao Châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký đều ghi nhận An Dương Vương là “Thục Vương tử” (con vua Thục) nhưng không cho biết rõ xuất xứ vua Thục, vị trí nước Thục và cả tên thật của An Dương Vương – Việt sử lược – bộ sử xưa nhất của nước ta -  chỉ chép một câu về nguồn gốc An Dương Vương: “Cuối thời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi và thay thế”. Tác giả bộ sử này cho biết một điểm mới: An Dương Vương tên Phán, nhưng cũng không nói rõ người xứ nào… Từ thế kỷ XV, với Đại Việt sử ký toàn thư và Lĩnh Nam chích quái, An Dương Vương đã xuất hiện một cách rõ ràng hơn: “họ Thục, tên Phán, người đất Ba Thục”. Hầu hết các bộ sử thời Lê và Nguyễn đều chép tương tự.

Như vậy, trong hàng ngàn năm, đến tận đầu thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX) vẫn tồn tại một quan niệm truyền thống: An Dương Vương (Thục Phán) là con vua Thục, người Ba Thục và năm thành lập nước Âu Lạc được xác định là năm Giáp Thìn, niên hiệu Chu Noãn Vương thứ 58 (năm 257 TCN).

Những nghi vấn

Từ thế kỷ XIX, quan niệm truyền thống về gốc tích An Dương Vương cùng việc thàng lập nước Âu Lạc bắt đầu bị hoài nghi và phủ định.

Theo chính sử Trung Quốc, nước Thục ở vùng Tứ Xuyên là một trong những nước thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Nước này bị Tần thôn tính vào năm Chu Thận Vương thứ 5 (năm 316 TCN). Vua Thục cuối cùng bị chết ở Bạch Lộc Sơn. Thế mà nước Âu Lạc – theo chính sử nước ta – mãi đến năm 257 TCN mới thành lập. Vậy sau khi nước Thục bị diệt, “con vua Thục” sống ở đâu và làm sao vượt qua hàng ngàn dặm núi rừng Tây Nam Di để từ đất Ba Thục tiến đánh nước Văn Lang của Hùng Vương ? Mọi nghi ngờ và xu hướng phủ định trước hết xuất phát từ đó.

Học giả Nguyễn Văn Siêu (1795-1872) có những ghi chép của sử cũ về An Dương Vương là sai lầm. Các nhà sử học thời Nguyễn – qua bộ Việt sử ký thông giám cương mục – nêu nghi vấn: “Nước Thục, từ năm thứ 5 thời Thận Tĩnh Vương, nhà Chu (năm 316 TCN) đã bị Tần diệt rồi, làm gì còn có vua nữa ? Huống hồ, từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiển Vi, đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác và đất Nhiễm Mang, cách nhau hai, ba ngàn dặm, có lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang ?”. Họ đưa ra một giả thuyết mới: Văn Lang, còn có Thục khác mà sử cũ nhận là Thục Vương chăng?”.

Thời Pháp thuộc, sự hoài nghi hoặc phủ định càng có chiều phát triển. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim dựa vào Việt sử thông giám cương mục, cho rằng An Dương Vương (Thục Phán) “không phải là nhà Thục bên Tàu”. Phân tích sâu sắc các luận cứ, Ngô Tất Tố khẳng định: “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục”. Nhiều nhà Đông phương học người phương Tây nghiên cứu cổ sử Việt Nam cũng nghi ngờ về tính xác thực của An Dương Vương và niên điểm thành lập nước Âu Lạc. H. Maspéro, khi bàn luận vấn đề này, cho rằng sử cũ chỉ chép theo truyền thuyết mà thôi. Còn L. Aurousseau thì công nhận nhân vật An Dương Vương, nhưng cho rằng nước Âu Lạc của An Dương Vương chỉ tồn tại trong ba năm (210-208 TCN)…

Các giả thuyết mới

Từ những năm 50 của thế kỷ này, công việc nghiên cứu về thời An Dương Vương ngày càng được quan tâm và đã thu được nhiều thành tựu lớn. Riêng về gốc tích An Dương Vương và sự thành lập nước Âu Lạc cũng có những phát hiện mới về tư liệu Trên cơ sở đó, các giả thuyết mới hình thành. Cuối thập kỷ 1950-1960, quan niệm truyền thống về gốc tích Ba Thục củ An Dương Vương vẫn được nhiều nhà sử học bảo vệ, nhưng với cách giải thích khác nhau.

1.Năm 1957, nhà sử học Trần Văn Giáp cho rằng sau khi nước Thục bị nước Tần diệt, hậu duệ vua Thục từ đất Ba Thục chạy xuống phía Nam ẩn náu, rồi dần dà vào đất Việt, lập nên nước Âu Lạc với triều Thục An Dương Vương, tồn tại khoảng 5 năm (210-206 TCN).

2.Cũng năm 1957, nhà sử học Đào Duy Anh đưa ra giả thuyêt: Thục Phán có thể là con hoặc cháu  xa của vua Thục ở Ba Thục. Sau khi nước bị diệt, ông đã cũng tôn thất chạy xuống vùng Điền Trì rồi tho Sông Hồng vào đất Lạc Việt, chiếm vùng Tây Vu ở Tây Bắc trung du Bắc Bộ ngày nay. Lãnh đạo người Lạc Việt và Tây Âu kháng chiến chống Tần Thằng lợi, Thục Phán chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương, lập nên nước Âu Lạc khoảng năm 208 TCN ( sau khi phát hiện truyền thuyết về “nước” Nam Cương của người Tày ở Cao Bằng, Đào Duy Anh có sửa đổi giả thuyết này. Ông cho rằng hậu duệ vua Thục từ Tứ Xuyên xuống Quý Châu, Vân Nam rồi vào : “nước” Nam Cương và Thục Phán trở thành tù trưởng của liên minh bộ lạc người Tây Âu ở đó).

3.Năm 1960, hai nhà sử học Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn căn cứ vào tình hình phân bố cư dân vùng Tây Nam Di, phỏng đoán: Thục Vương trong các thư tịch cổ không phải là vua nước Thục ở Ba Thục, mà là tù trưởng bộ lạc Khương di cư từ đất Thục xuống phía Nam và tự xưng Thục Vương. Bộ lạc đó đi xuống vùng Quảng Tây và đồng bằng Bắc Bộ, sống xen kẽ và đồng hóa với người Tây Âu ở vùng này. Nước Âu Lạc bao gồm hai thành phần dân cư: Lạc Việt và Tây Âu.

Năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương (Thục Phán) được công bố. Đó là truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này, Thục Phán là con Thục Chế, “vua” của “nước” Nam Cương ở vùng Cao Bằng và Quảng Tây hiện nay mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng). Nam Cương gồm 9 xứ Mường. Cuối thời  Hùng Vương, khi Thục Chế mất, con là Thục Phán còn ít tuổi, 9 chúa Mường kéo quân về đòi Thục Phán chia sẻ quyền lực, Thục Phán tuy nhỏ tuổi hưng rất thông minh, đã bày ra những cuộc đua sức, đua tài và giao hẹn ai thắng cuộc sẽ được nhường ngôi. Thục Phán đã dùng mưu làm chúa mất nhiều công sức mà chẳng ai thắng cuộc. Cuối cùng, các chúa phải quy phục Thục Phán. Về sau, “nước” Nam Cương trở nên cường thịnh, Thục Phán nhân lúc nước Văn Lang suy yếu mà đánh chiếm lấy, lập ra nước Âu Lạc, tựu xưng An Dương Vương, đóng đô tại Cổ Loa.

4.Năm1966, trên cơ sở truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa, xuất hiện giả thuyết mới của Trần Quốc Vượng và Đặng Nghiêm Vạn, cho rằng Thục Phán là tù trưởng một liên minh bộ lạc người Tây Âu hay người Tày cổ ở vùng rừng núi phía Bắc Bộ và Nam Quảng Tây.

5.Năm 1969, lại có thêm hai giả thuyết nữa về gốc tích Thục Phán.

Thueo Hùng Vương ngọc phả cùng nhiều thần tích, ngọc phả thánh Tản Viên và các tướng của Tản Viên thì Thục Phán là “phụ đạo xứ Ai Lao”, là “bộ chúa Ai Lao”. Kết hợp điều đó với những ghi chép của thư tich cổ Trung Quốc về vùng Tây Nam Di, Nguyễn Linh nêu giả thuyết: Thục Phán không phải là vua nước Thục ở Tứ Xuyên mà là vua nước Tây Thục của người “Ai Lao di” tại vùng Vân Nam , giáp với nước Văn Lang ở phía Tây Bắc. Cuối thời Hùng Vương, Thục Phán đã thôn tính nước Văn Lang.

6.Nguyễn Duy Hinh phân tích lại các thư tịch cổ Trung Quốc, chứng minh rằng: người Lạc Việt cư trú trên địa bàn rộng lớn từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực Tây Giang. Thục Phán là người đừng đầ một nhóm Lạc Việt nào đó và Âu Lạc (hay Tây Âu, hay Tây Âu Lạc) cũng là một nước của người Lạc Việt do An Dương Vương thành lập. Với giả thuyết này, tác giả coi việc An Dương Vương chiếm nước Văn Lang, lập nước Âu Lạc chỉ là cuộc đấu tranh nội bộ của người Lạc Việt.

Tất cả những giả thuyết trên chứng tỏ gốc tích Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc còn nhiều bí ẩn. Nói chung, các nhà nghiên cứu thời gian gần đây đều có xu hướng bác bỏ quan niệm truyền thống về gốc tích Ba Thục của Thục Phán. Quan niệm này chứa đựng những điều vô lý, khó giải thích về khoảng cách không gian và thời gian giữa nước Thục ở Tứ Xuyên với nước Âu Lạc ở Bắc Việt Nam, vừa trái với nguồn tư liệu trong nước, Mặt khác, theo quan niệm truyền thống, Thục Phán là người nước ngoài, là kẻ xâm lược nước Văn Lang. Thế nhưng trong ký ức và tình cảm lâu đời của nhân dân được phản ánh qua các thần tích, ngọc phả, các nghi thức thờ cúng, diễn xướng  dân gian... thì Thục Phán hoàn toàn không phải kẻ thù, mà là một anh hùng có công dựng và giữ nước. Ngày 6-1 (Âm lịch) hàng năm bao giờ cũng có lễ hội lớn nhớ An Dương Vương (Thục Phán) được tổ chức long trọng tại đền thờ ông ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội);

Chết thì bỏ con bỏ cháu

Sống thì không bỏ mồng sáu tháng giêng.

Trong nhiều thần tích về Hùng Vương, An Dương Vương và các nhân vật thời đó, cũng như trong truyền thuyết dân gian, Thục Phán là một “bộ chúa”, một “phụ đạo” thuộc “dòng dõi vua Hùng”. Cuộc xung đột Hùng-Thục không dẫn đến chỗ tiêu diệt nhau, mà kết thúc bằng sự nhường ngôi của Hùng Vương và sự hợp nhất của cư dân, đất đai để thành lập nước Âu Lạc. Vì vậy, phương hướng chung được xác lập trong các giả thuyết gần đây luôn coi Thục Phán nhu người cầm đầu một bộ lạc, một liên minh bộ lạc hay một “nước” nào đó gần nước Văn Lang có quan hệ chặt chẽ với cư dân Văn Lang.

Giả thuyết cuối cùng?

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, những năm cuối thập kỷ 1980-1990, giáo sư Phan Huy Lê cùng một nhóm các nhà sử học đưa ra và chứng minh giả thuyết sau:

Cư dân Văn Lang thời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và bao gồm cả một bộ phận người Tây Âu (còn gọi là người ÂuViệt) ở miền rừng núi, trung du phía Bắc, hai thành phần đó sống xen kẽ với nhau trong nhiều vùng. Phía Tây Bắc nước Văn Lang là địa bàn cư trú của người Tây Âu, cũng có người Lạc Việt sống xen kẽ. Các nguồn thư tich cổ Trung Quốc chứng to người Lạc Việt có cả mặt ở lưu vực Tây Giang, đảo Hải Nam và một phần Vân Nam, Quý Châu.

Lạc Việt, Tây Âu là hai nhóm phía nam của Bách Việt, sống gần nhau (một số vùng xen kẽ nhau) trên lưu vực sông Hồng và Tây Giang, nên có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa. Có lẽ do tình trạng này mà không ít thư tịch cổ Trung Quốc coi Tây Âu với Lạc Việt là một. Quách Phác (đời Tấn) chú giải sách Phương ngôn của Dương Hùng nói rằng: “Tây Âu là biệt chủng của Lạc Việt”, Nha Sư Cổ (đời Đường) khi chú giải Hán thư, cũng giải thích: “Tây Âu tức là Lạc Việt, nói Tây (Âu) là để phân biệt với Đông Âu”…

Thục Phán là thủ lĩnh một liên minh bộ lạc người Tây Âu ở phía Bắc nước Văn Lang – theo truyền thuyết của đồng bào Tày thì gồm 10 xứ Mường (9 mường của 9 chúa và 1 mường trung tâm của Thục Phán), tức 10 bộ lạc hợp thành địa bàn cư trú gồm vùng Nam Quảng Tây, Cao Bằng và có thể rộng hơn (cả vùng núi rừng phía Bắc Bắc Bộ), với trung tâm là Cao Bằng (nhân dân vùng Cổ Loa, Hà Nội cũng tương truyền rằng Thục Phán vốn là “một tù trưởng miền núi phía Bắc”).

Giữa Lạc Việt và Tây Âu, cũng như giữa Hùng và Thục, đã có nhiều qua hệ gắn bó lâu đời. Truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ chứa đựng mối quan hệ giữa hai yếu tố Lạc và Âu trong cội nguồn xa xưa của các thành phần dân tộc tại Việt Nam. Nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương, An Dương Vương coi Thục Phán thuộc “dòng dõi”, “tông phái”, “cháu ngoại” vu Hùng. Những thần tích chép Thục Phán là “bộ chúa Ai Lao” hay “phụ đạo Ai Lao” cũng coi Thục Phán là người đứng đầu một bộ như 15 bộ của nước Văn Lang, thuộc “dòng dõi vua Hùng” (Hùng Vương ngọc phả), chứ không phải là người nước ngoài xa lạ.

Cuối thời Hùng Vương, giữa Hùng-Thục xảy ra cuộc xung đột kéo dài (nhiều làng vùng trung châu lưu vực sông Hồng nay vẫn thờ thánh Tản Viên và những bộ tướng của vua Hùng từng thoe thánh Tản Viên “đánh giặc Thục”). Đó là cuộc xung đột tất yếu trong quá trình yập hợp các bộ lạc và liên minh bộ lạc gần gũi nhau đê thành lập nhà nước, mở rộng phạm vi kiẻm soát của nhà nước đó.

Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì nứơc Văn Lang, cũng như người Lạc Việt và Tây Âu, cùng toàn bộ các nhóm người Việt trong khối Bách Việt đứng trước một mối đe dọa khủng khiếp. Đó là sự âm lược với quy mô lớn của đế chế Tần. Hoàn cảnh lịch sử ấy giải thích tại sao cuộc xung đột Hùng-Thục lại kết thúc bằng việc nhường ngôi của Hùng Vương cho Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc như bước phát triển kế tục của nước Văn Lang – một sự hợp nhất ở mức độ cao hơn, phạm vi rộng hơn của người Lạc Việt và Tây Âu.

Giả Thuyết trên được coi là toàn diện và có sức thuyết phục nhất từ trước đến nay. Trên cơ sở khái quát một cách khoa học những kết quả nghiên cứu với dẫn chứng đầy đủ, sự phân tích sâu sắc, lập luận chặt chẽ, nó đã giải thích khá hợp lý vấn đề gốc tích An Dương Vương và sự thành lập nước Âu Lạc. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là giả thuyết – nghĩa là trước khi có thể trở thành sự thực, nó còn phải được khoa học lịch sử kiểm chứng kỹ càng. Việc nghiên cứu về thời đại An Dương Vương vẫn đang tiếp tục với nhiều phát hiện mới, nên chưa thể khẳng định giả thuyết trên là giả thuyết cuối cùng./.

Cập nhật ( 22/06/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online