Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow HỘI THẢO NHƯ LUỒNG GIÓ MỚI
HỘI THẢO NHƯ LUỒNG GIÓ MỚI PDF In E-mail
Người viết: Administrator   
23/06/2008

HỘI THẢO NHƯ LUỒNG GIÓ MỚI XUA ÁNG MÂY ĐEN CHO TA THẤY RÕ RÀNG CÔNG LAO ĐÓNG GÓP TO LỚN VÔ VÀN CỦA SƯ NGUYỆT CHIẾU

          Nhân kỷ niệm 60 năm ngày mất của Sư Nguyệt Chiếu (16/8/1947) do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bạc Liêu tổ chức Hội thảo tại chùa Long Phước, phường 5, TX Bạc Liêu ngày 27 tháng 9 năm 2007.

      

          Qua một ngày làm việc nghiêm túc trong bầu không khí chan hòa tình đạo vị. Ban Chứng minh và Đoàn Chủ tọa, các đại biểu đã lắng nghe hơn 20 tham luận, trong đó có 10 tham luận liên quan đến quá trình phát triển và những đặc điểm nghệ thuật của nhạc lễ Nam bộ, số tham luận còn lại thì liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Sư Nghuyệt Chiếu. Mỗi tham luận đều có lập luận theo chủ ý riêng, nhưng đều đồng thuận đánh giá công lao của Sư Nguyệt Chiếu là rất to lớn. Sư ông không chỉ là vị chân tu mà còn rất ý thức trách nhiệm làm hài hòa giữa đạo và đời, bằng sự cống hiến hết mình cho nhạc lễ cổ truyền và đờn ca tài tử Nam bộ, đúng như lời Tiến sĩ Nghệ sĩ Bạch Tuyết đã nói : “Sư Nguyệt Chiếu là nhà sư - nghệ sĩ”.

          Về tiểu sử, thân thế của Sư Nguyệt Chiếu tôi không lặp lại ở đây vì điều đó đã được ông Trần Phước Thuận - Phó Hiệu trưởng Trường Phật học Bạc Liêu đã mô tả rồi.

          Điều tôi muốn nói ở đây là cảm tưởng của giới văn nghệ sĩ sau ngày Hội thảo về sự cống hiến trọn đời, hoàn hảo của của sư Nguyệt Chiếu đối với Bạc Liêu nói riêng và các vùng miền cả nước nói chung bằng sự tri ân lan tỏa vô ngần, qua hàng chục website trong và ngoài nước, trong đó có cả website của Bộ Văn hóa Thông tin, bài viết về Sư Nguyệt Chiếu của Nhà nghiên cứu Trần Phước Thuận đã được một website bình chọn là bài được đọc nhiều nhất. Thông tin về hội thảo còn được sự tường thuật của hàng chục tờ báo Trung ương và địa phương như : Sài Gòn Giải Phóng, Lao Động, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau, Giác Ngộ, Tạp chí Xưa Nay, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo… Đặc biệt có một phóng sự dài trên 20 phút do Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Bạc Liêu thực hiện, phóng viên Đài đã phỏng vấn ông Trần Phước Thuận và một số đại biểu khác như Tiến sĩ Trần Hồng Liên, Tiến sĩ Thích Phước Chí, ông Quảng Thiệt… về Sư Nguyệt Chiếu và nhiều vấn đề liên quan đến nhạc lễ cổ truyền. Nội dung phóng sự thật phong phú và rất có ý nghĩa.

          Cái lương duyên thế nào của miền đất thơ ca, miền đất gian lao mà anh hùng qua sự các kiện đồng Nọc Nạng (1927) và Chủ Chọt (1928) với huyền thoại Công tử Bạc Liêu vang bóng một thời ... miền đất gừng cay muối mặn, cánh đồng  thẳng cánh cò bay, thơm lừng hương nhãn, qua hai cuộc đấu tranh chống xâm lược hào hùng, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc cái định mệnh đã sắp bày cho bước dừng chân của Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, viết nên bài Dạ cổ hoài lang, sau đó biến thành bài Vọng cổ, một bài ca chủ lực của sân khấu cải lương và trên sóng phát thanh truyền hình cả nước.

          Còn duyên tao ngộ đầu thế kỷ XX, cho Sư Nguyệt Chiếu về trú ngụ ở chùa Vĩnh Phước An cũng chính nơi đây ông đã gặp Nhạc Khị và hai người đã trở thành đôi bạn tâm giao, cùng chí hướng. Chí hướng đó gặp nhau ở chỗ : Sưu tầm, tập hợp, phân tích, chỉnh lý, hiệu đính, sắp xếp lại bài bản, phân câu, tính nhịp (nhịp nội, nhịp ngoại) bài bản dài ngắn, kể cả sáng tác bổ sung ... Hai ông đã chỉnh tu âm nhạc truyền thống, mở đầu hình thành trường phái cổ nhạc Bạc Liêu.

          Từ đó, phong trào đờn ca tài tử, ca ra bộ, phong trào phục hưng nhạc lễ nở rộ trên vùng đất phương Nam. Trong khi Nhạc Khị dạy đàn học trò, truyền dạy tư tưởng sáng tác, thì sư Nguyệt Chiếu cũng ra sức dạy học trò về nhạc lễ và đờn ca tài tử khi ông được mời về trú ngụ tại chùa Vĩnh Đức, phường 1, TX Bạc Liêu.

          Ngày hai buổi công phu, vậy mà sư Nguyệt Chiếu còn bỏ ra công sức với sự khéo tay : Khoan, dùi, cưa, đục, làm được nhiều nhạc cụ có giá trị như trống, mõ, đờn cò, đờn kìm. Khi dạy học trò ông thường lấy bài Dạ cổ hoài lang làm mẫu hướng dẫn học trò, cho nên có người hiểu nhầm là ông sáng tác ra bài ca đó, sự thực thì ông gợi ý cho Cao Văn Lầu đặt tên bài ca đó thôi. “Dạ cổ hoài lang” có nghĩa là đêm nghe tiếng trống nhớ chồng.

          Sư Nguyệt Chiếu còn cất công sưu tầm, hiệu đính bảy bài Bắc lớn (Thường gọi là bảy bài cò, hơi hạ) gồm các bài dùng trong nhạc lễ : Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc và Vạn giá (Nhạc tài tử chíunh thống Nam bộ có 4 điệu : Nam, Hạ, Bắc, Oán và 4 làn hơi: Xuân, Ai, Đảo, Ngự). Các bản này đều được Nhạc Khị nhuận sắc và dùng trong giảng dạy học trò, sau đó được in trong sách “Ca nhạc cổ điển” (1962) của soạn giả Trịnh Thiên Tư. Việc chỉnh tu, hiệu đính 7 bài Bắc lớn là công lao đáng ghi nhận của Sư Nguyệt Chiếu, tích cực xây dựng nền móng cho cổ nhạc Nam bộ được thịnh hành.

          Sư Nguyệt Chiếu còn có công thu nhận nhiều đệ tử nhạc lễ như : Thiện Ý, Thiện Ngộ, Hai Tố, Trịnh Thiên Tư. Những lớp đệ tử đàn ca tài tử, ca ra bộ, có nhiều người ca vọng cổ xuất sắc như Năm Nghĩa, Sanh Sía, Chín Quy. Riêng Lư Hòa Nghĩa đã “chuyển giai điệu” bài Dạ cổ hoài lang thành điệu Vọng cổ trong bài ca nhịp 8 đầu tiên “Văng vẳng tiếng chuông chùa” (năm 1934) mở ra kỷ nguyên Vọng cổ như ta thấy ngày hôm nay. Cũng cần nói thêm là bản này ra đời được ít lâu thì Soạn giả Trịnh Thiên Tư nhận thấy chữ nhạc khác xa bản Dạ cổ hoài lang, nên đã đề xuất đổi tên là Vọng cổ (1935), nhiều người còn gọi là Vọng cổ Bạc Liêu. Bản Vọng cổ sau đó được phát triển thành nhịp 16 và hiện nay đang dừng ở nhịp 32.

          Tôi có thể tự nghĩ rằng : Giới đờn ca tài tử, cải lương và cả những nghệ nhân nhạc lễ cổ tuyền từ bấy lâu nay chưa có bao nhiêu người hiểu rõ về sự cống hiến lớn lao của Sư Nguyệt Chiếu. Hội thảo hôm nay sẽ như luồng gió mới xua áng mây đen, cho ta thấy rõ ràng công lao đóng góp to lớn vô vàn của Sư Nguyệt Chiếu đã đặt nền móng cho sự hình thành phong trào nhạc lễ, đờn ca tài tử, ca ra bộ và sau cùng  là cải lương đã đơm bông kết trái.

          Nếu Nhạc Khị được tôn vinh là Hậu Tổ thì Sư Nguyệt Chiếu cũng là Ân Sư có công truyền bá đạo pháp, nhạc đạo và đời vì Sư Ông cũng là nhà Sư - Nghệ sĩ. Thiết nghĩ nên có ngày húy kỵ (lễ giỗ) hàng năm trang trọng tại chùa Vĩnh Đức, Phường 1, Thị xã Bạc Liêu, cũng là cái nôi của bản Vọng cổ, để nghìn sau hậu thế mãi còn ghi ân.   

 

Nhạc sĩ Thanh Tâm

Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam  

 

Cập nhật ( 11/07/2008 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online