Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Tìm hiểu một Việt lộ cho tôn giáo dân tộc (Nguyễn Văn Kim)
Tìm hiểu một Việt lộ cho tôn giáo dân tộc (Nguyễn Văn Kim) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
02/09/2009

TÌM MỘT VIỆT LỘ CHO TÔN GIÁO DÂN TỘC

* Nguyễn Văn Kim    

          Ba thập kỷ sau khi giành được quyền lực, cùng với dân tộc Đại Việt, vương triều Trần (1225 – 1400) đã phải đối diện với những thách thức chính trị hết sức to lớn từ phương Bắc. Trong vòng 29 năm nhà Trần đã phải ba lần kháng chiến chống lại sự sâm lược của đế chế Mông – Nguyên (1206 – 1368). Trong lịch sử Việt Nam, không có triều đại nào phải chịu áp lực liên tục, mạnh mẽ từ thể chế phong kiến Trung Hoa đến như vậy. Tuy nhiên, qua các cuộc chiến tranh, sức sống của dân tộc đã được thể hiện và tôi rèn. Mặt khác, những thắng lợi giành được trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã củng cố niềm tin của một dân tộc tự cường. Trước những thách thức khắc nghiệt của Lịch sử, vương triều và dòng họ Trần đã gánh vác trách nhiệm và hoàn thành vẻ vang trách nhiệm mà tổ quốc giao phó.

          Trong những nguyên nhân  dẫn đến sự thắng lợi có thể thấy, cùng với vai trò lãnh đạo của các minh vương như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và các danh tướng: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư…, với tư cách là chính quyền trung ương, vương triều này còn hợp tụ được đông đảo cộng đồng dân tộc, các tù trưởng, hào tộc, chí sĩ yêu nước, từ miền núi đến miền xuôi như: Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Thế Lộc, Phùng Tá Chu, Phạm Kính Ân…, các thế hệ, tầng lớp xã hội: Trần Quốc Toản, Lê Phụ Trần, Phạm Ngũ Lão, Trần Khắc Chung, Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi… Năm thế kỷ sau, bàn về tư chất, phẩm cách của đội ngủ lãnh đạo, Trí thức thời trần, trong Kiến văn tiểu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã đánh giá: “Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân tử thời Tây Hán, thật không phải người tầm thường có thể theo kịp được. Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong thời ấy có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất. Ôi như thế! Người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được! Từ bản triều trở về sau phong độ ấy dần dần không được nghe thấy nữa” (1). Có thể coi đó là một thời đại “vô tiền, khoáng hậu”.

          Vào thời Trần, các tôn thất của dòng họ này chia nhau nắm giữ các chức vụ chủ chốt ở triều đình và địa phương để tạo nên thế “tông tử duy thành” (liên kết họ mạc bảo vệ ngôi vua), duy trì cơ chế chính trị của giới quý tộc. Tuy nhiên, để đảm đương trách nhiệm mà lịch sử giao phó, vương triều này hiểu rằng không thể  chỉ đóng khuôn, dựa vào các quý tộc thân tộc mà phải chủ động chiêu nạp, mời gọi nhiều tầng lớp, thành phần xã  hội tham gia vào sự nghiệp chung của đất nước (2). Nhìn chung, do được trọng dụng, bố trí đúng khả năng nên họ đều coi việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, nền độc lập dân tộc, củng cố vị thế quốc gia là bổn phận của chính mình. Sứ mệnh lịch sử mà nhà Trần đảm đương đã hòa quyện với sứ mệnh dân tộc và chính nó đã tiếp tục khắc họa, làm sâu sắc thêm chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Đó chính là cơ sở và động lực mạnh mẽ để nhà Trần trở thành lực lượng chính trị trung tâm, dẫn dắt dân tộc vượt qua những thách thức khắc nghiệt của lịch sử.

          Là một triều đại lớn có tư tưởng khai mở đồng thời lại phải trải qua những cuộc chiến tranh tàn khốc nên trong 175 năm tồn tại, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Đại Việt thời Trần đã diễn ra nhiều biến chuyển. Tuy nhiên, dấu ấn của vương triều Trần để lại trong hành trình lịch sử văn hóa dân tộc là hết sức sâu đậm. Trong không gian của lãnh thổ Đại Việt truyền thống, từ vùng núi cao đến hạ châu thổ đặc biệt là ở các tỉnh duyên hải Bắc Bộ, những vùng quê gắn bó với đất phát tích, sinh thành những triều đại này, những nơi diễn ra các sự kiện lịch sử như hội nghị Bình Than của giới quý tộc Trần bàn định kế sách  chống địch, hội nghị Diên Hồng để “nuôi người già, xin lời hay”, và tại các chiến địa, nơi diễn ra những trận giao tranh quyết liệt… ở đâu, địa phương nào cũng có biết bao huyền thoại, truyền thuyết, di tích gắn với công đức, tài danh, tính thuyết, di tích gắn với công đức, tài danh, tính cách của các đức vua, võ tướng, danh nhân và cả những người nô bộc giàu trung nghĩa… Tất cả đều một lòng dốc tâm, dồn sức chung lo việc nước (3).

          Được tạo dựng từ thời Lý (1010 – 1225), đến thời Trần quyền lực của chính quyền trung ương không ngừng được mở rộng và về căn bản triều đại này vẫn có phần mô phỏng thiết chế chính trị của nhà Tống 940. Thiết chế đó đã đạt đến độ phát triển cao nhất của mô hình quân chủ quý tộc và bộc diện những sắc thái đa dạng của nó. Trong tâm thế xã hội đó, nhà Trần có nhiều nét  độc đáo so với các triều đại khác: về chính trị xuất hiện chế độ Thái thượng hoàng; về kinh tế có chế độ điền trang, thái ấp (5); trên phương diện xã hội nhà Trần duy trì chế độ hôn nhân nội tộc hay đồng tộc giao hôn (6). Trong quan hệ đối ngoại, vương triều Trần tiếp tục thực thi chính sách độc lập, tự chủ  nhưng rất cương quyết trước các thế lực cường bạo, có tham vọng lớn về chủ quyền lãnh thổ, mưu toan chà đạp lên nền độc lập của dân tộc Đại Việt.

          Trong lịch sử khu vực, thế kỷ XIII – XIV là thời kỳ mà ở phương Bắc triều đại Mông – Nguyên đang mau chóng phát triển thành một một đế chế quốc tế. Trong khi đó ở phía Nam, các vương quốc như Chămpa, Chan Lạp, Ai Lao… cũng muốn vươn lên tự khẳng định vị thế của mình và tranh giàng ảnh hưởng khu vực. Trong bối cảnh đó, để tồn tại và phát triển giữa hai trung tâm quyền lực một mang tính châu lục và một mang tính khu vực, nhà Trần phải có thế ứng đối mạnh mẽ và linh hoạt. Về chính trị, vương triều này khởi lập chế độ Thái thượng hoàng. Chế độ này là một sản phẩm độc đáo của nhà Trần, không chỉ nhằm duy trì sự phát triển tiếp nối của dòng họ mà còn là giải pháp nhằm bảo đảm một khả năng an toàn cao nhất cho nền chính trị quốc gia trước những diễn tiến khó lường của lịch sử (7). Bên cạnh đó, trong thế đi lên của một dân tộc tự cường hiển nhiên nhà Trần cần một bệ đỡ về tư tưởng để cũng cố quyền năng của thể chế và dẫn dắt dân tộc. Nhận thấy những ảnh hưởng và sự nhiệm màu của Phật giáo, nhà Trần vẫn tiếp tục dựa vào tôn giáo này làm bệ đỡ tư tưởng và lấy đó làm cơ sở cho việc  xây dựng đường lối trị quốc cũng như phát triển văn hóa. Nhưng, Phật giáo không trở thành hệ tư tưởng độc tôn mà đã hòa mình với dòng chảy văn hóa dân tộc. Với tư tưởng Phật pháp bất định pháp, giáo lý Phật giáo đã hòa nhập với các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa để tạo nên một khung cảnh đạo đời không thể phân ly. “Cái tinh thần  Đạo, Đời trong lối sống thời Trần, trọng Phật, trọng Lão, trọng Nho nhưng hòa quang đồng trần (hòa ánh sáng với bụi bặm), ý tưởng triết lý của Lão Tử trong Đạo đức kinh”  (8) là phương châm quán xuyên tư duy và tâm thế dân tộc.

          2. Thiền phái Trúc Lâm và thế ứng đối với phương Bắc

          Khi đi đến quyết định lựa chọn và tôn vinh Phật giáo, hiển nhiên với quý tộc Trần luôn hiểu Phật giáo là một tôn giáo “ngoại nhập”,  là giá trị chung của nhiều quốc gia khu vực, Phật giáo có nhiều tông phái, quan điểm, đã du nhập vào Đại Việt sớm, qua trải nghiệm và đã thành bệ đỡ tư tưởng văn hóa, chính trị của các vương triều Ngô (939 – 965), Đinh (968 – 979), Tiền lê (980 – 1009), Lý nhưng đã có nhiều biểu hiện suy thoái thời cuối Lý. Do vậy, việc tiếp tục tôn vinh Phật giáo cũng cần phải và đồng thời là quá trình hợp luyện với các giá trị truyền thống, tâm thế mới của dân tộc khẳng định và tìm đến một cách riêng biệt, một sinh lực mới của sự phát triển của dân tộc. Những người đứng đầu triều Trần mà điển hình là các vua Trần thái Tông (1226 – 1257), Trần Thánh Tông (1257 – 1278, Trần Nhân Tông (1278 – 1293) đã chủ trương tìm kiếm và sáng lập một dòng phái tôn giáo mới thể hiện bản ngã dân tộc. Họ đã gắn công tìm ra con đường đi khác biệt, một Việt lộ cho dân tộc, Vương triều Trần đã lựa chọn thiền (Dhyana, Zen) trong cái thế giới tôn giáo đa dạng đó. Không câu nệ, viện dẫn kinh pháp bằng sự nhập định hoàn toàn của tư duy, người theo thiền tông có thể đạt đến sự yên tĩnh tuyệt đối của tâm trí và như vậy cũng đạt đến tâm Phật. Trong lịch sử, ở một số quốc gia Đông Bắc Á, thiền tông luôn là sự lựa chọn của các xã hội quân sự, của một đất nước có nhiều biến động, chiến tranh (9). Bất cứ ở đâu, ngay tại chiến trường, không cần đến miếu tự cũng như sự thông tuệ kinh pháp, người chiến binh đồng thời là tín đồ Phật giáo vẫn có thể chiêm nghiệm và đạt đến sự giác ngộ. Điều đó lý giải vì sao vào thế kỷ XIII, trong lịch sử tư tưởng, văn hóa Đại Việt lại xuất hiện một Thiền Phái Trúc Lâm đặc sắc, có nhiều nét thuần Việt. Đem theo ánh hào quang của ba lần đại thắng đế chế hùng mạnh nhất phương Đông vào tôn giáo, kế thừa tư tưởng, hành tích của các vị tiền nhân, Nhà vua – Anh hùng Trần Nhân Tông đã xác lập được vị thế cao về tôn giáo. Được tôn vinh rồi mau chóng trở thành vị Thánh Tổ của dòng thiền Trúc Lâm, Trần Nhân Tông đã trở thành Phật hoàng của dòng Thiền Đại Việt. Đặc tính căn bản của dòng phái này là sự khoan hòa, có năng lực nhập thế cao và mang tinh thần dân tộc sâu sắc. Nói cách khác, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã chuyển hóa thành công một trong những triết lý căn bản của Phật giáo từ vô vi xuất thế sang nhập thế hữu vi (10) đồng thời đưa quan niệm này thành giá trị chung, hòa với dòng chảy của văn hóa – tín ngưỡng – tâm thức dân tộc để trở thành tinh hoa của Thiền Việt.

          Tinh thần và chủ trương nhập thế đó được thể hiện trong rất nhiều hành vi và thế ứng đối văn hóa của các đức vua, quý tộc thời Trần. có thể thấy, lúc sinh thời các quân vương, quý tộc trước hết và chủ yếu không phải là nhà tu hành “chuyên nghiệp”. Nhưng sau những lo toan, cống hiến, trải nghiệm, thấu hiểu việc nước, sự hoan lạc cùng muôn nỗi đau trần thế… họ mới có thể xuất thế đi tu hoặc trở thành tín đồ. Tâm thế xã hội và tôn giáo đó khiến cho giới quý tộc Trần có được năng lực nhập thế cao thông qua những biểu hiện, hành vi, Sự phức cảm và cái nhìn đa diện hơn về trần thế cũng như đức tin tôn giáo. Tâm thế đó khác và vượt trội hơn so các nhà tu hành từ sớm đã dấn thân, trọn đời theo đạo. Điều đó lý giải vì sao, khi đất nước phải đương đầu với giặc ngoại xâm, các nhà tu hành, Thiền gia đều sẵn sàng ra trận, thậm chí sẵn sàng đứng trên tuyến đầu chống giặc. Bởi lẽ, nhập thế chính là để cứu đời, để ngăn chặn cái ác, làm điều thiện. Trong một không gian xã hội có nhiều biến dịch thì dù nhập thế hay xuất thế, tâm thế thiền vẫn luôn hiện hữu ở mọi lúc mọi nơi, trong tất cả mọi hành trạng của con người. Khi năng dự nhập cao đó xuất phát từ quan niệm “Phật ở trong tâm, tâm lặng mà biết thì gọi là Phật”. Trong Phật tâm ca nhà Thiền học uyên bác thời Trần là tuệ Trung thượng sĩ còn khẳng định rằng: Tâm tức Phật, Phật tức tâm không thể chia rời tâm với Phật. Theo đó, Tâm sinh thì Phật sinh, Tâm diệt thì Phật diệt (11). Như thế, “Phật giáo đầu thời Trần đã khắc phục khuynh hướng hư vô xuất thế bộc lộ khá rõ ở Phật giáo cuối thời Lý. Đồng thời, nó cũng gạt bỏ những ảnh hưởng của Mật giáo. Có thể nghĩ rằng, tinh thần dân tộc được nâng cao trong thế kỷ XIII đã thổi một luồng sinh khí mới cho Phật giáo” (12). Tâm thế đó đồng thời cũng làm biến đổi nhiều quan niệm nhân sinh và triết luận của Phật giáo.

          Ra khỏi bóng đêm của 1.000 năm Bắc thuộc, các triều đại Lý Trần đều muốn thoát khỏi sự cương tỏa của đế chế phương Bắc nhằm tìm cho mình một sắc thái, bản lĩnh văn hóa riêng. Bản lĩnh văn hóa đó, rõ ràng không thể chỉ dựa vào lớp văn hóa bên trên vốn đã bị Hán hóa. Do vậy, cũng như triều Lý, nhà Trần phải trở về hồn Việt, với xóm làng, với những giá trị của văn minh nông nghiệp Đông Nam Á – Nam Á, với tinh thần dân chủ làng xã để rồi tự khẳng định mình là một thế giới văn minh trong thế đối trọng của hai cực Nam – Bắc. Đó là hai khái niệm gắng liền với hai không gian lãnh thổ và khu vực địa – văn hóa, vốn sớm có mối liên hệ nhưng mỗi khu vực điều có một truyền thống văn hóa riêng. Với tinh thần đó, tư tưởng chủ đạo của nhà Trần là ý thức về nguồn cội, về chủ nghĩa yêu nước và chính ngọn cờ yêu nước đã quy tụ tất cả các tầng lớp xã hội, tín đồ gắn và hòa mình vào mục tiêu chung là sự nghiệp chấn hưng dân tộc. Trong bối cảnh đó, Phật giáo đã được lựa chọn như một đối lực để hạn chế xu thế áp chế chính trị, văn hóa Nho giáo đang chuyển động mạnh mẽ xuống phương Nam nhằm thể hiện quyền uy, chiếm đoạt tài vật và mở rộng không gian sinh tồn.

          Do có triết luận sâu sắc về nhân sinh cũng như đức khoan dung nên Phật giáo đã hòa quyện với trào lưu dân tộc và trở thành hệ tư tưởng dẫn dắt tâm thức dân tộc. Có thể coi việc lựa chọn và tôn vinh Phật giáo là một chủ trương lớn, một nhận thức thể hiện sự mẫn cảm trong tư duy chính trị, văn hóa của giới quý tộc Trần trước những áp chế khu vực. Do vậy, vào thời Trần, “Toàn bộ binh lực dân tộc được huy động cho công cuộc giữ nước và dựng nước… Các nhà Thiền học uyên thâm như Thái Tôn, Tuệ Trung, Thánh Tông, Nhân Tông, vào lúc vận nước nguy nan, đều trở thành những người anh hùng lập nhiều chiến công hiển hách. Phật giáo thế kỷ XII vì thế mà cũng trong sạch hơn và nhập thế hơn” (13). Có thể coi “Phật giáo nhà Trần là một Phật giáo Việt Nam và là một bình diện văn hóa mới trong lịch sử văn hóa dân tộc” (14). Thiền phái Trúc Lâm ra đời và phát triển mạnh bởi nó chứa đựng trong đó tinh thần dân tộc. Hơn ai hết, giới quý tộc Trần thấu hiểu nỗi đau của dân tộc bị mất nước, phải chịu kiếp nô lệ. Sức mạnh quật cường được tôi luyện qua mười thế kỷ Bắc thuộc cùng khí thế đi lên của một dân tộc đã dành lại được nền độc lập gần ba thế kỷ đã dồn tụ, hun đúc để tạo nên một “hào khí Đông A” anh dũng thời Trần.

          Trong khung cảnh ấy, lịch sử đã sản sinh ra những con người kiệt xuất. Người mở đầu cho thiền phái Trúc Lâm và vua Trần Nhân Tông 1295 rồi lại nhập tục và lại “dứt khoát” xuất gia năm 1299 về tu ở Yên Tử, ông đã trở thành đệ nhất tổ. Tiếp nối từ phái Vô Ngôn Thông, phái Trúc Lâm ra đời đã tạo nên một sự hợp nhất giữa các phái lớn là chi Yên Tử với chi Thăng Long dẫn đến sự thống nhất về tôn giáo. Như vậy, sau một thời kỳ vận động và chia tách của các dòng phái Phật giáo, cuối thời Lý đầu đời Trần, sự ra đời của phái Trúc Lâm Yên Tử đã “đánh dấu sự thống nhất của giáo hội Phật giáo Việt Nam” (15). Quá trình thống nhất đó đã diễn ra sau khi đất nước đã trải qua ba cơn binh lửa, dân tộc đang trải nghiệm và nhận thức lại chính mình trong tâm thế hướng đến sự an bình, hòa hợp. Xã hội Trần cũng đang cần những liệu pháp tâm lý để xoa dịu nỗi đau nhân thế. Nhưng sự đe dọa từ phương Bắc vẫn còn đó, những thách thức từ phương Nam và cả từ vùng biên giới phía Tây vẫn dội đến kinh thành Thăng Long. Những hiểm nguy tìm ẩn và hiện hữu đó đã tác động không ngừng đến tâm lý dân tộc cùng tư duy chính trị của giới quý tộc. Do vậy, các vua và quý tộc triều Trần không chỉ vẫn tiếp tục ủng hộ Phật giáo mà hơn thế còn tự mình trở thành các nhà tu hành, lãnh đạo tôn giáo và thực sự dấn thân vì sự phát triển, sáng tạo tôn giáo. Hơn bất cứ một triều đại nào khác, vào thời Trần tôn giáo tư tưởng gắn kết vô cùng mật thiết và đồng hành với các mục tiêu chính trị. Nói cách khác, các vua và giới quý tộc Trần đồng thời là những người hành đạo. Nhìn chung, họ không cần đến đội ngủ cố vấn – trí thức Phật giáo như kiểu Từ Đạo Hạnh, Mãn Giác, Nguyễn Minh Không, Giác Hải… thời Lý.

 

Chú thích:

          1. Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Nxb Khoa học Xã hội, Nội, 1977, tr.258 – 259. Tham khảo thêm Viện Lịch sử quân sự: Trần Hưng ĐạoNhà quân sự thiên tài, Nxb Chính trị Quốc gia, Nội, 2000, tr.345 – 353.

2. Trần Thánh Tông luôn quan niệm: “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ. tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta cùng với các khanh là đồng bào ruột thịt. Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui”. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Khoa họa Xã hội, H., 1993, tr.37.

3, 14 Vũ Ngọc Khánh, Văn hóa đời Trần một chặng đường trong lịch sử văn hóa Việt Nam, trong: Nhà Trần và con người thời Trần, Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử văn hóa Việt Nam, Hà Nội, 2004, tr. 398 – 399, 393, 394.

4. Phan Huy Lê, Vài nhận xét về tổ chức và tính chất nhà nước thời Trần, trong: Tìm về cội nguồn, tập II, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 1999, tr. 53.

          5. Nguyễn Phương Chi, Thái ấp – điền trang thời Trần (Thế kỷ XIII – XIV), Nxb Khoa học Xã hội, Nội, 2002. Tham khảo thêm Trương Hữu Quýnh: Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI XVII, tập I, Thế kỷ XI – XV, Nxb Khoa học Xã hội, 1982, tr.192 – 160.

6. Chu thiên, Gia đình đức Trần Hưng Đạo, Tạp chí Tri tân, số 17, tháng 10, 1941.

7. Ở mức độ nào đó, có thể coi chế độ Thái thượng hoàng là sự phân chia quyền năng giữa một bên là Thượng hoàng thâu tóm sức mạnh về tư tưởng, tôn giáo với một bên là vua con (Thế tử) nắm giữ quyền lực thế tục. Trong bối cảnh Đại Việt lúc Bấy giờ, hai quyền lực đó bổ trợ cho nhau để tạo nên kháng lực cần thiết và sức mạnh chung cho dân tộc. Ngô Sĩ Liên cho rằng: “Thực ra, truyền ngôi chỉ để yên việc sau, phòng lúc vội vàng, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng quyết định”, Toàn thư, Sđd, tr.30. Tham khảo thêm Nguyễn Thị Phương Chi, Vai trò của đô thị Thiên trường đối với kinh đô Thăng Long thời Trần. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 8 (380), 2007, tr.36 – 43.

8. Trần Quốc Vượng, Đôi điều về nhà Trần – Đức Thánh Trần: Cội rễ lịch sử và sự phát triển trong bối cảnh văn hóa Đại Việt thế kỷ XIII – XIV, trong, Nhà Trần và con người thời Trần, Sđd, tr.48.

9. Có thể xem Ishida Kazuyoshi, Nhật Bản tư tưởng sử, 2 tập, (Châm Vũ Nguyễn Văn Tần dịch), Tủ sách Kim Văn, Sài Gòn, 1972; Joseph M.Kitagawa, Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, (TS. Hoàng Thị Thơ dịch), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; hay Stephen Addiss, Nghệ thuật Zen (Tư Tam Định dịch), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001.

          10. Cùng với tư cách là những nhà tu hành, những người khai sáng ra dòng Thiền Việt Nam nhiều vua/Thái thượng hoàng còn là tác giả của những công trình nghiên cứu Phật giáo và văn hóa nổi tiếng như Trần Thái Tông có Thiền Tông chỉ nam, Khóa hư lục; Trần Nhân Tông có Thiền  Lâm thiết chủng ngữ lục, Đại Hương hải ấn thi tập, Tuệ Trung có  Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục… Ngoài ra còn có: Tham Thiền chỉ yếu của Pháp Loa, Phổ Tuệ ngữ lục và Ngọc Tiền thi tập của Huyền Quang. Cùng với các tác phẩm như Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Hịch tướng sĩ, Bạch đằng giang phú, Đề Thạch môn sơn… đã thể hiện sâu sắc tinh thần Phật giáo, Nho giáo sự thâm sâu của nền học thuật, triết lý nhân văn cũng như tinh thần yêu nước, khí phách dân tộc Đại việt thời Trần.

11. Xem Nguyễn Duy Hinh, Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, 1999, tr.592 – 594.

12. Hà Văn Tấn, Ba yếu tố của Phật giáo Việt Nam: Thiền, Tịnh, Mật, trong Đến với Lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, Nội, 2005, tr.289 – 190.

13. Hà Văn Tấn, Phật giáo từ Ngô đến Trần (Thế kỷ X – XIV), trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Tài Thư (Cb), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1988, tr.215.

15. Hà Văn Tấn, Chùa Việt Nam, trong Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, Nội, 2005, tr.218.

Cập nhật ( 02/09/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online