Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Người đưa Hát ăn vào cuộc sống (Lương Đức Vinh)
Người đưa Hát ăn vào cuộc sống (Lương Đức Vinh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
19/09/2009

NGƯỜI ĐƯA HÁT VĂN VÀO CUỘC SỐNG

* Lương Đức Vinh

Năm 1975 – giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng tôi được xếp vũ khí để trở về làm người dân xây dựng lại quê hương. Tôi chuyển nghành vể hoạt động ở Ty Văn hoá Hà Nam Ninh. Có điều kiện, tôi quyết lội ngược dòng suối hát văn để tìm bằng được người viết, người đàn và người hát những bài hát văn, từ làn sóng điện đài Tiếng nói Việt Nam đã theo chân anh bộ đội chúng tôi suốt chặng đường giải phóng. Tôi đã được gặp người thầy dạy hát văn và là người chơi đàn nguyệt tuyệt vời nhất nước ta cùng người chơi trống phách tài hoa hợp với nhau lúc khoan, lúc nhặt, lúc xôn xao, ào ạt như gió cuốn mưa sa, chắp cánh cho những câu hát văn bay cao bay xa rồi đậu vào tâm hồn người nghe.

Khi hỏi đến tác giả Kim Mã – Thạch Mã, người viết lời cho các văn nổi tiếng, mọi người chỉ cho tôi tìm gặp ông Trưởng ty Văn hoá. Một ông già cao lớn, trán hói, mũi cao như một ông Tây. Tôi ngờ ngợ… ông này là Kim Mã hay Thạch Mã? Ông cười hóm hỉnh: “Cậu biết ta là gì không?”. Tôi ấp úng chưa biết nói sao, ông lại cười:

- Tôi là Kim Mã và cả Thạch Mã luôn – Ông cười rất vui làm nước da mái mái còn sót lại từ những trận sốt rét rừng Trường Sơn hơi ửng lên. Rồi trở lại với dáng vẻ đôn hậu thường ngày và trong tình thân mật của người nhà, ông đã trò chuyện với tôi.

Hát chầu văn rất phổ biến ở Bắc Bộ, đặc biệt là vùng Nam Định, nơi có Hội Phủ Dày nổi tiếng có lên đồng, hầu bóng liên miên. Hát chầu văn để rước các giá đồng cô đồng cậu thêm phần long trọng, linh thiêng. Những năm cuối 1950 và đầu 1960, ông là phó trưởng Ty Văn hoá Nam Định, chỉ đạo việc xoá bỏ tệ bói toán đồng bóng, mê tính dị đoan. Nhưng ông lại mê tiếng hát chầu của mấy ông cung văn. Có nhiều ngày ông ngồi cả buổi nghe họ đàn hát cho các bà các cô hầu bóng. Theo nhịp đàn, nhịp cách của khúc hát, các bà các cô uốn lượn, khoan thai xiên đôi chân rất dẻo, có lúc lại nhảy múa rất tài tình như bay lượn trên mặt chiếu.

Ông đã ghi nhiều bài hát, nghe các ông cung văn giải thích từng thể loại, ông đã nghiên cứu rất kỹ và ông đã nhiều lần tự hỏi: hát chầu văn là một sản phẩm văn hoá, cũng như hát chèo, tuồng…tại sao không đưa nó thành một bộ môn phục vụ quần chúng? Những người đồng tình với ông cho đó là ý kiến hay. Nhưng nhiều người phản đối tức thì, kể cả cán bộ tuyên huấn, chính trị: ai lại đem cái sản phẩm mê tính dị đoan ấy lên sân khấu cách mạng, nhất là ta đang cải tạo, xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa! Đình chùa, đền, phủ thờ cúng nay đã thành nhà kho hợp tác xã! Thậm chí có nguồi nâng thành vấn đề quan điểm, qui cho ông có tư tưỡng chống đường lối văn nghệ của Đảng và tiếp tay cho tệ nạn mê tính dị đoan…Nhưng ông cho rằng, bản thân hát chầu văn không xấu, xấu chăng là ở mục đích sử dụng, hoàn cảnh và nội dung lời hát. Ông xin ý kiến Bộ Văn hoá và Tỉnh uỷ cho làm thử. Ông viết lời bài hát văn đầu tiên.

Đôi lời nhắn nhủ được tốp nữ của Đoàn văn công Nam Định hát mở màn Hội diễn sân khấu toàn quốc lần thứ nhất năm 1962 tại rạp Hồng Hà, Hà Nội. Cả hội trường ngỡ ngàng. Những cô tố nữ khăn nhung áo the, chân đi hài cánh phượng đã chinh phục họ ngay từ phúc đầu. Khi kết thúc, cả hội trường đã hoan hô nhiệt liệt tưởng như không dứt. Tiết mục được huy chương vàng. Không nghi ngờ gì nữa, hát chầu văn là một môn nghệ thuật hấp dẫn, nó đã có giấy thông hành hoà nhập vào cuộc sống mới cùng các liền anh liền chị dân ca quan họ Bắc Ninh, ca Huế, dân ca Nam bộ… Từ đó, trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên sân khấu, tiếng hát chầu văn cùng tiếng đàn nguyệt đã sống lại một đời sống mới.

Hát chầu văn, sau này gọi là hát văn, có nhiều làn điệu như vỉa, phú, dọc, cờ, xá, chèo đò…mỗi làn điệu có tính chất và đặc điểm riêng. Thể phú dõng dạc, nghiêm trang ca ngợi theo lối thơ bảy chữ, hoặc song thất lục bát. Thể cờn, thể thơ lục bát lại khoan thai tình tứ đường hoàng, thể xá sôi nổi rộn ràng đến mức mạnh mẽ. Chất giọng hát văn không thể lẫn với bất cứ thể loại nào. Người hát phải luyện giọng thật kỹ theo đàn theo phách, nhưng người viết cũng phải hiểu sâu sắc và nắm được cái thần của câu hát mà viết sao cho lời ca thanh thoát mà ý tứ vẫn sâu xa.

Bây giờ hát văn không phải chỉ có Nam Hà Hát, cũng giống như quan họ Bắc Ninh không chỉ có Hà Bắc và cải lương không chỉ có Nam bộ hát. Sự giao lưu văn hoá đã đưa các câu dân ca vượt khỏi vườn nhà đến mọi miền đất nước thậm chí ra cả nước ngoài. Nhưng nói đến hát văn ai cũng nghĩ đến Nam Hà. Có lẽ cũng dễ hiểu vì Nam Hà chẳng những là nơi khởi xướng hát văn mà còn vì chất giọng hát văn Nam Hà không thể nơi nào bắt chước được. Nơi này nơi kia hát văn còn hơi của hát chèo, thậm chí hát xẩm. Tiếng đàn nguyệt của Thế Tuyền, tiếng đàn phách của Xuân Thiệu, tiếng hát của Kim Liên, của tốp nữ Nam Hà… đã là một đặc sản văn hoá Nam Hà. Cũng không thể có ai bắt chước được lời viết dày dặn, công phu, sâu sắc mà lời ca vẫn linh hoạt thanh thoát, bay bổng của tác giả Kim Mã-Thạch Mã…Tác giả ấy, người làm chầu văn sống lại chính là nhà văn Chu Văn, người viết nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như Bảo biển, Đất mặn, Sao đổi ngôi… Ông có công đầu đưa hát chầu văn từ trong Đền Ông, Phủ Chúa vào cuộc sống nhân dân, góp phần vào cuộc giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam./.

Cập nhật ( 19/09/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online