Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Việc học ngày xưa (Lê Nguyễn)
Việc học ngày xưa (Lê Nguyễn) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
19/09/2009

VIỆC HỌC NGÀY XƯA

* Lê Nguyễn

NHÌN LẠI LỊCH SỬ

Sau thời kỳ đầu lập quốc, nước ta chìm đắm trong hơn 1000 năm Bắc Thuộc đầy tăm tối (111 trước CN – 968). Đó là chặng đường mất nước dài nhất, chỉ những dân tộc có một bản chất bất khuất, một lòng kiên trì diệu mới không bị đồng hóa và vẫn bảo tồn được sự độc lập của mình. Do những biến động lịch sử, nền văn hóa nước ta (trong đó có việc học hành và thi cử) mới thực sự bắt đầu kể từ thế kỷ X, XI thời Nhà Lý.

Trường học đầu tiên của Việt Nam mở đầu vào năm 1076 đời Lý Nhân Tông với tên Quốc Tử Gíam, là loại trường công duy nhất mở tại Kinh Đô dành cho con cái quan lại triều đình. Từ ấy về sau, danh xưng tuy có thay đổi, khi thì “nhà Thái học” (1483), khi thì “nhà Quốc học” (1803) những mục đích và chức năng của loại trường công này cũng chỉ nhằm đào tạo con cháu giai cấp quyền quý ở Kinh đô, thảng hoặc con cháu thường dân học hành xuất sắc cũng được cho vào học (nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt). Việc giáo dục con cái thường dân được giao phó cho những loai6 hình trường ốc tự phát rải rác khắp cá làng quê…

Trong lúc các bậc hiển nho có thể bước thấp bước cao trên hoan lộ gập ghềnh, thấp cũng là Tri huyện, cao có khi đến Tổng đốc, Thượng thư, thì công việc dìu dắt thế hệ mai sau được mặc nhiên dành cho hai hạng kẻ sĩ: những bậc ẩn nho là những người có tài, đổ đạt nhưng khong chịu ra làm quan, chỉ thích sống ẩn dật, và hạng hàn nho là những người tương đối có tài nhưng năm lần bảy lượt lều chỏng đi thi vẫn không gặp vận may, đành lấy nghề dạy học làm kế sinh nhai.

Nếu nhà thầy tương đối khang trang, có sân trước, sân sau, có bể cá, ao bèo, thì nhà thầy sẽ kiêm luôn nhà học. Nhưng nếu nhà thầy chật hẹp quá, vợ thầy thuộc dạng phụ nữ “lặn lội bờ ao” thì thầy sẽ quảy một gánh sách Thánh hiền đến nương náo nhà một điền chủ hay một phú hộ nào đó để vừa dạy dỗ đám quý tử của chủ nhà, vừa kết nạp thêm học trò từ làng trên xóm dưới.

Nhưng dù cho ở điều kiện nào, trong cái nhìn của xã hội xưa, các thầy đồ vẫn luôn là tầng lớp được kính nể, trọng vọng: “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hay “không thầy đố mày làm nên”…

Ở thôn quê, khi trẻ em được 6,7 tuổi, các bậc cha mẹ dẫn chúng đến xin thầy cho con được thụ giáo để có được dăm bảy chữ Thánh hiền. Thầy hỏi ý kiến chủ gia và thông thường, chủ gia ưng thuận luôn, coi đây cũng là một vinh dự nhà mình. Thế là lễ nhập môn được tổ chức vào một “ngày lành, tháng tốt” với mâm xôi, con gà, be rượu… Trong cái ngày trọng đại đó, cha mẹ cậu bé được mời ở lại nhâm nhi với thầy và gia chủ, nhân tiện bàn về tướng mạo, tuổi tác, tính tình, tương lai của cậu học trò mới.

Thực hành đúng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”, trong những tháng đầu tiên, cậu học trò chỉ được dạy chủ yếu cách khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi, bẩm thưa…cho đúng lễ phép, đồng thời làm những việc vặt: quét sân, quét lớp, mài mực cho thầy…Những sai sót trong cung cách  ăn ở, cư sử đã được hướng dẩn, phải trả giá bằng những trận đòn roi mây tím thịt. Sau giai đoạn học lễ, học trò mới được học chữ Thánh hiền.

Trong trường lớp, chổ ngồi của thầy là một chiếc giường trải chiếu hoa, trên có đầy đủ những tiện nghi thời thượng: tráp, bút, nghiên, điếu…Học trò thì ngồi lên những chiếc phản kê sát nhau, đối diện với thầy; học trò nhỏ ngồi trước, học trò lớn thì ngồi sau. Tuổi tác học trò rất trên lệch nhau: từ cậu bé tóc còn để chỏm đến anh chàng có vợ, chuẩn bị thi Hương, tất cả tập trung trong một lớp, thầy hết giảng cho nhóm này thì quay sang giảng cho nhóm kia. Ở những lớp học đông, thầy chỉ định hai anh Trưởng trường để giúp thầy coi sóc mọi việc. Anh Trưởng trường  nội thì lo những việc trong phạm vi trường lớp, thay thầy giải quyết công việc chung. Anh Trưởng trường ngoại thì lo những việc từ cổng trường trở ra, gặp những việc rất rối thì bàn với anh Trưởng trường nội để cùng giải quyết.

Giờ học trong ngày cũng khác bây giờ nhiều lắm. Sáng sớm, khoảng 6 giờ học trò lục tục đến nhà thầy để trả bài, xong rồi mới về nhà ăn cơm sáng và trở lại học vào khoảng 9 giờ. Học một mạch cho đến 3 giờ chiều mới nghỉ. Số học trò trong tuần là 7/7, không nghỉ thứ năm, chủ nhật hay ngày lễ như bây giờ. Thời gian nghỉ dài hạn trong năm cũng khác. Nhằm tạo điều kiện cho học trò có thể giúp cha mẹ trong cao điểm của việc đồng áng, nên hằng năm có 3 kỳ nghỉ dài gọi là 3 cái tết: Tết Đoan Ngọ, nghỉ khoảng hơn một tháng để học trò giúp cha mẹ gặt lúa; Tết cơm mới vào tháng 10, nghỉ khoảng một tháng cho vụ gặt Tết Nguyên đáng nghỉ khoảng 2 tháng.

Việc đền đáp công sức thầy dạy được thể hiện dưới hai hình thức:

- Tiền học phí: Mỗi năm nộp cho thầy làm một hay hai lần, tất cả khoảng 4 quan tiền. Riêng chủ nhà ( nơi thầy ăn ở để dạy học) thì mỗi năm may cho thầy 2 quần, 2 áo dài, 3 áo cộc.

- Tiền tết thầy vào các kỳ nghỉ: tùy hảo tâm của cha mẹ học trò để thầy có chút tiền mua sắm và về quê nhà. Thưở ấy, các học trò lớn thường kính cẩn tiễn chân thầy về, có trường hợp đưa thầy  bình yên về đến quê nhà rồi học trò mới xin phép quay trở lại.

Ngoài hai khoảng tiền trên, còn có một khoảng đóng góp bất thường mà bản thân thầy dạy cũng như thân nhân thầy không muốn thu nhận. Đó là “tiền đồng môn” đóng trong trường hợp cha mẹ thầy, vợ thầy hay chính thầy chết. Lúc đó, anh Trưởng trường nội sẽ căc cứ vào danh sách tất cả học trò (từ lớp đầu tiên) và tùy theo hoan cảnh mỗi người mà định khoảng đóng góp. Những học tró cũ của thầy dù đang làm quan to cũng không thoát ra ngoài bản danh sách do anh Trưởng trường nội lập. Danh sách lập xong, được giao cho anh Trưởng trường ngoại thi hành. Ngày xưa, hành vi trốn thuế  Triều đình còn được dư luận châm trước chứ hành vi trốn đóng góp tiền đồng môn được coi là một vi phạm luân lý nặng nề, một hình thức vong ân bội nghĩa không thể tha thứ được!

Thời vua Minh Mạng (1802 – 1840), có những năm bị mất mùa, hoặc ở những địa phương nghèo, sự chăm sóc của cha mẹ học sinh cho thầy dạy không được chu đáo, Triều đình phải chuẩn cho các địa phương trích ruộng công đặt làm “ruộng hương học” để dành nuôi dạy con em trong làng. Sự quan tâm của Triều đình, sự kính trọng, chăm sóc chu đáo của dân làng đối với thầy dạy là cả một niềm an ủi tự hào dành cho một tầng lớp sĩ phu đem sở học và cái đạo làm người truyền cả cho đời sau.

Về chương trình họ, trong hơn một thiên niên kỷ, hầu như hai bộ sách căn bản mà thầy phải dốc công dạy và học trò phải dốc công học là Tứ thư và Ngũ Kinh. Tứ thư gồm 4 quyển: Đại học, Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử, chủ yếu ghi lại những lời nói, những câu trao đổi với người đồng thời, những lời khuyên dạy học trò của Đức Khổng Tử (kèm theo lời giảng giải của những môn sinh xuất sắc của ông). Còn Ngũ Kinh gồm có Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu cũng là những công trình sưu tập hoặc san định của Đức Khổng Tử dành cho đời sau.

Sau một thời gian rút kinh nghiệm về việc dạy học – không thấy sách sử ghi rõ vào năm nào – cổ nhân đã soạn ra một số sách giáo khoa cho học trò mới nhập môn học trước khi vào hai bộ sách lớn kể trên. Đó là các sách sau:        

Nhất Thiên Tự : gọi là “một nghìn chữ” nhưng thực ra có đến 1015 câu, toàn thơ lục bát, mỗi chử Hán đều có kèm theo  nghĩa bằng chữ Nôm:

Thiên trời, Địa đất, Vân mây,

Vũ mưa, Phong gió, Trú ngày, Dạ đêm…

-Tam Thiên Tự: Sách có tất cả 3.000 chữ, từng cặp chữ kế tiếp nhau vàbắtvần với nhau: Thiên Trời, Địa đất, Cử đất, Tồn còn, Tử con, Tôn cháu, Lục sáu, Tam ba, Gia nhà, Quốc nước…

- Ngũ thiên tự : có 5.000 chữ, cũng ghép theo thể lục bát như Nhất thiên tự nhưng ghép riêng từng để mục như : Thiên văn, địa lý, quốc chính, luân thường…

- Sơ học vấn tân : Tóm tắt lịch sử Trung Quốc, lịch sử nước Nam và dạy cách sử thế.

- Ấu học ngũ môn thi : Nói về lạc thú của việc học, mơ ước đổ đạt của người học trò.

Phương pháp sư phạm thời ấy không đi dần từ dể đến khó, từ đơn giản đến phức tạp mà ngay từ đầu, học trò đã gặp những bài hóc búa bởi vì mục đích quan trọng của việc dạy học khi xưa là truyền đạt cho học trò đạo nghĩa, cương thường theo đúng câu “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Về văn bài để luyện tập thì có thơ, phú, kinh nghĩa (bài văn giải thích một câu trích trong kinh truyện), văn sách (bài văn trả lời những câu hỏi ở đầu bài để tỏ rõ kiến thức của mình), chiếu (lời vua ban bố hiệu lệnh cho các thần dân), chế (lời vua phong thưởng cho công thần), biểu (bài văn của thần dân dâng lên vua), Trừ thi, phú thông dụng trong sinh hoạt văn học hàng ngày, các loại khác chỉ dùng trong kỳ thi.

Vào thời nhà Nguyễn, trong hệ thống giáo dục, mỗi địa phương có một chức quan coi về việc giáo dục: Cấp Tỉnh có Đốc học, cấp Đạo, (tỉnh nhỏ) có Điểm học, cấp Phủ có Giáo thụ (Cao Bá Quát từng làm Giáo thụ Phủ Quốc Oai – Sơn Tây) và cấp Huyện có Huấn đạo. Các vị này có nhiệm vụ coi sóc việc dạy học của các làng xã và tổ chức các cuộc sách hạch chuẩn bị cho kỳ thi Hương.

Để luyện cho học trò quen với văn bài, thường vào một năm trước kỳ thi Hương, quan Đốc học ra đầu bài hằng tháng, cho niêm yết ở Dinh Đốc học. Học trò đến nơi lấy đề bài về nhà làm khoảng nữa tháng sau mang lên nộp. Đến cuối tháng, quan Đốc học cùng các vị khoa bảng có tiếng trong tỉnh hợp nhau chấm bài và tổ chức buổi bình văn. Học trò trong tỉnh lũ lượt kéo về dự. Những bài văn hay được đọc lên toàn bài hay trích đoạn – nêu tên tuổi, quê quán tác giả. Ai được xứng danh và bình văn sẽ hảnh diện với bè bạn và xóm làng. Loại hình sinh hoạt này tạo không khí sôi nổi trong học tập và kích thích học trò rất nhiều trong việc cố gắng đèn sách.

Mỗi năm một lần, quan đầu tỉnh (Tổng đốc hoặc Tuần phủ) và quan Đốc học tổ chức tại tỉnh một kỳ thi gọi là khảo khóa với số đề bài hạn chế gồm: thi, phú, văn sách. Những người đậu kỳ thi này được gọi là “thầy khóa” và được miễn làm công tác phu đài, tạp dịch trong một năm. Quan trọng hơn cả đối với việc học trò là kỳ Tỉnh hạch mở khoảng 4,5 tháng trước kỳ thi Hương. Chỉ những người thi đỗ trong kỳ thi này mới được quan Đốc học lập danh sách gửi về Bộ Lễ để Bộ này phân phối đi khắp trường thi. Những người đậu đầu trong kỳ Tỉnh hạch được gọi là :Đầu Xứ” (xem truyện “Báo oán” trong tập “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân).

Xem như thế, ta thấy trong cái học ngày xưa, phương châm “tiên học lễ hậu học văn” và tinh thần tôn sư trọng đạo được đề cao và thực hiện triệt để. Bên cạnh đó, ta cũng dể nhận ra những mặt lạc hậu của nền học vấn từ chương khoa cử (chịu ảnh hưởng của thời kỳ dài Bắc Thuộc) đang cần bổ sung, đổi mới. Triều đình nhà Nguyễn cũng thấy điếu đó. Thang 1 năm 1824 nhân lúc bàn với quần thần về việc học, vua Minh Mạng có nói: “…Văn cử nghiệp chỉ câu lệ lối hủ lậu mà khoe với nhau, mỗi nhà lập riêng mỗi cách học, cao hay thấp, khoa trường lấy hay bỏ điều theo nề nếp ấy. Vì lối học như thế nên nhân tài ngày kém dần đi. Nhưng thói quen đã lâu, đổi ngay cũng khó, vài năm sau sẽ lần lần bàn mà đổi lại…” (trích Quốc triều chánh biên).

Tháng 8-1835, Triều đình nhà Nguyễn đã cho lựa những người trẻ tuổi, lanh lợi, thông minh, cấp lương tiền cho đi học “tiếng các nước xa gần” để xét dùng về sau. Đến tháng 6 năm sau thì “Định ra chương trình dạy học trò quán Tứ Dịch, học tập văn tự ngoại quốc. Mấy tháng đầu thời học chữ Tây, mỗi ngày 2,3 chữ, chữ Xiêm mỗi ngày 7,8 chữ, đến 5 tháng sau, mỗi ngày học chữ Tây 6,7 chữ, chữ xiêm 11,12 chữ…” (trích Quốc triều chánh biên). Song song với việc học ngoại ngữ, vào thời kỳ này, những môn học toán pháp, đo lường, địa lý…cũng bắt đầu được dạy xen vào chương trình cũ.

Khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ, họ nhận thấy sự quảng bá đường lối, chính sách cho dân thuộc địa bằng chữ Hán là một việc khó khăn, vì tầng lớp cai trị (quan lại pháp) và tầng lớp bị trị (dân nghèo) đều không rành chữ Hán. Ngay từ năm 1863, người Pháp đã ban hành quyết định số 44 (ngày 31-3-1863) qui định việc học tại Nam kỳ - theo đó vẫn giữ lại các chức quan Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo, nhưng đưa thêm vào chương trình học chữ Hán một chương trình học tiếng Việt viết bằng chữ la tinh. Tuy nhiên, vào thời kỳ mới mẻ này, chương trình học tiếng Việt chỉ có tính cách nhiệm ý, chưa có tính bắt buộc…

16 năm sau, các nghị định của Thống đốc Nam kỳ (ký ngày 17-3-1879 và 14-6-1880) mới tổ chức nền học chính ở Nam kỳ, qui định việc dạy và học song hành cả hai thứ chữ: chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Đến năm 1911, Theo thông tư số 86 (ngày 23-11-1911) của quyền Khâm sứ Trung kỳ, các thí sinh dự kỳ thi Hương năm 1912 phải hiểu biết chữ Quốc ngữ, do đó các nhân viên học chính phải thiết lập bên cạnh trường dạy chữ Hán một trường dạy chữ Quốc ngữ cho thí sinh các kỳ thi Hương.

Năm 1918 là năm mở kỳ thi Hương cuối cùng trong lịch sử học và thi chữ Hán trên đất Việt Nam. Kỷ nguyên chữ Quốc ngữ thực sự bắt đầu từ đó. Ý đồ của thực dân Pháp trong việc cổ xúy, cưỡng bách môt nền giáo dục chữ Quốc ngữ là điều đã được các nhà văn hóa, sử học thảo luận, tranh cãi nhiều. Nhưng dù với ý nghĩ nào, thực tế khách quan đã đưa chữ Quốc ngữ trở thành một phương tiện truyền thông giúp nhân dân ta sớm tiếp thụ những tiến bộ văn hóa, khoa học kỷ thuật của thế giới.

Thập niên 1930 – 1940, ngưới ta đã không còn nghe tiếng ê a của thầy đồ dạy học sau lũy tre xanh và hoàn cảnh cuộc sống đã đẩy một lớp sĩ phu của Khổng sân Trình trôi dạt ra ngoài phố thị :

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua…

                          (Thơ Vũ Đình Liên)

Cách học xưa đã mai một, mực tàu đã thay bằng giấy trắng, nhưng nền học cũ vẫn còn để lại tinh thần tôn sư trọng đạo sống mãi trong truyền thống đạo lý Việt Nam

Cập nhật ( 19/09/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online