Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Nhạc cụ truyền thống Việt Nam (Nguyễn Đăng Nghị)
Nhạc cụ truyền thống Việt Nam (Nguyễn Đăng Nghị) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
19/09/2009

NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM NHỮNG DẤU VẾT CÒN LẠI

* Nguyễn Đăng Nghị

          Theo tiêu chí quốc tế, đến nay, nhạc cụ truyền thống Việt Nam đã có đủ loại được phân theo các bộ: dây, gõ, đồng, gõ. Xét về mặt vật chất và tính thực hành xã hội thì đó chỉ là một dạng vật chất cụ thể, một công cụ âm nhạc phục vụ cho đời sống sinh hoạt tinh thần của con người Việt Nam, Nhưng rõ ràng, không chỉ đơn giản như vậy, mà, mỗi nhạc cụ đều có quá trình phát sinh, phát triển cùng với thời gian, nói rộng ra là với lịch sử của từng tộc người cụ thể. Như thế, cũng có nghĩa là, ngoài yếu tố vật chất thuần túy, mối nhạc cụ còn bao chứa trong nó những giá trị, ý nghĩa văn hóa khác. Cái ý nghĩa đó là sự biểu hiện cách ứng xử của con người với con người, con người với môi trường tự nhiên, xã hội. Vấn đề đặt ra ở đây, vậy thì, cái gì là điều quyết định làm nên những giá trị trên…

          Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng Đông Nam Á nằm ở ngã tư đường, là cầu nối giữa hai nền văn minh cổ xưa: Trung Hoa, Ấn Độ, Châu Á – Địa Trung Hải , nên được coi là một khu vực quan trọng, đặc biệt là ở vị trí địa lý của nó. Có lẽ cũng do địa điểm vị trí địa lý này, cùng sự ảnh hưởng của quá trình giao thoa văn hóa với hai nền văn minh lớn là Trung Hoa và Ấn Độ, nên không ít các học giả châu Âu từ giữa thế kỷ XX trở về trước thường cho rằng Đông Nam Á là Hán hóa hay Ấn hóa. Đó là cách nhìn phiến diện, và đầy tính áp đặt, thậm chí thiếu thiện cảm. May thay, về sau, do sự cởi mở về cách nhìn nhận, nên trong đánh giá khoa học những năm cuối thế kỷ XX trở lại đây, chẳng ít các nhà nghiên cứu Đông – Tây đã công nhận: Đông Nam Á là một khu vực có một sắc thái riêng. Và cao hơn nữa, nơi đây có nền văn hóa được hình thành và phát triển rực rỡ theo chiều dài của lịch sử nhân loại. “Dựa vào cứ liệu của các ngành nhân học, dân tộc học, ngôn ngữ học, ngành khoa học nhân văn đã xác định được vùng Đông Nam Á có một cơ tầng văn hóa riêng biệt, phi Hoa, phi Ấn…” (1). Phi Hoa, phi Ấn, đó là cách khẳng định rõ ràng Đông Nam Á là một thực thể văn hóa với những bản sắc riêng.

          Đông Nam Á xưa đã từng trải rộng trên một vùng địa giới rộng bao la. Phía Bắc đến bờ sông Dương Tử. Phía Tây gồm một phần đông bắc Ấn Độ. Phía Đông và phía Nam là cả một hệ thống bán đảo và đảo nằm cạnh châu Đại Dương. Địa hình của khu vực này khá phong phú, có rừng, có biển, có sông, có núi, có đồng bằng trung du… Chính đặc điểm địa lý này đã làm cho khí hậu ở khu vực mang tính chất nhiệt đới ẩm và gió mùa. Đó là cơ sở tạo cho Đông Nam Á hình thành một hệ sinh thái mang đặc trưng phồn tạp – thực vật phát triển mạnh hơn động vật. Hệ sinh thái này là điều kiện quan trọng thúc đẩy cho cư dân nơi đây sớm có ý thức trong việc thuần dưỡng cây trồng, đặc biệt là cây lúa nước. Vì thế, trên phương diện văn hóa, người ta thường nói cơ sở tầng nến của Đông Nam Á là nền văn minh lúa nước.

          Cho dù điều kiện thiên nhiên đã mang lại cho con người Đông Nam Á một không gian lý tưởng, một tài nguyên phong phú, đa dạng, nhưng thiên nhiên vô cùng hào phóng ấy cũng mang đến cho con người không ít sự bí hiểm và thách thức. Những hiện tượng của tự nhiên như mưa gió, sấm sét, động đất luôn là một hằng số bí ẩn. Đối với cuộc sống con người. Vì vậy, muốn giải mã những ẩn số đó, ít ra về mặt tinh thần, con người không cách nào khác phải chọn giải pháp là hòa mình vào môi trường thiên nhiên ấy. Hòa vào trong thiên nhiên, tức là tìm cách ứng xử để thích nghi và cải tạo môi trường để tồn tại, để sống. Những cách hòa đó chính là văn hóa. Và, theo chiều dài của lịch sử, ngày nay chúng ta có thể thấy cách hòa vào thiên nhiên môi trường của cư dân Đông Nam Á được biểu hiện qua nhiều mặt.

          Về mặt nhận thức trí tuệ, đó là triết lý âm dương, sự thống nhất, chuyển hóa, chuyển đổi của các mặt đối lập. Với tư cách tư duy của con người nông nghiệp, họ phải quan tâm nhiều đến các hiện tượng tự nhiên, tìm được qui luật của nó để nương theo mà làm mùa vụ. Chính điều đó mà cư dân Đông Nam Á đã thiết lập được một hệ lịch gồm: lịch đo thời gian thiên văn, lịch đo thời gian sinh giới, lịch đo thời gian con người.

          Về đời sống tâm linh của cư dân nơi đây được xây dựng trên quan niệm vạn vật hữu linh. Các linh hồn này tạo thành thế giới thần linh, nó vô hình nhưng có tác dụng mạnh mẽ đến đời sống con người. “Do đó con người đã thần thánh hóa những ma lực đó dưới hình thức các biểu tượng và thờ phụng các thần linh để được che chở: (2)

          Thế giới thần linh của cư dân Đông Nam Á vô cùng phong phú, nhưng nhìn chung có thể chia thành hai loại: nhiên thần và nhân thần.

          Nhiên thần – thần trong tự nhiên, là các thần sông, thần núi, thần cây, thần đá… mà con người xin các thần bảo trợ cho cuộc sống được bình  an để sản xuất. Quan niệm đó được thể hiện qua các tục: thờ mặt trời, thờ thần núi và thờ đá, thờ thần sông biển, thần nước, thờ thần cây và thần lúa, thờ sinh thực khí và nghi lễ phồn thực.

          Nhân thần, tục này bắt nguồn từ việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình, dòng họ, sau được mở rộng thành tục thờ cúng những người có công với cộng đồng như ông tổ nghề, tổ làng, hoặc ông tổ của cả nước.

          Như vậy có thể nói rằng cơ tầng văn hóa Đông Nam Á ẩn chứa trong nó những hằng số: hằng số tự nhiên là nóng ẩm mưa nhiều; hằng số văn hóa là văn minh lúa nước lấy nông nghiệp là chính. Người nông dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp và gắn bó chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ gia đình – làng xã. Họ có tư duy cầu tĩnh, trọng tình cảm và có đời sống tâm linh vô cùng phong phú.

          Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, nên địa giới hành chính đã có nhiều thay đổi, đến nay vùng Đông Nam Á gồm có 10 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Malaixia, Indonexia, Philippin, Brunây, Singapore. Trong đó Việt Nam được nhìn nhận như một Đông Nam Á thu nhỏ. Nói cách khác,Việt Nam là sự hội tụ khá đầy đủ những hằng số của cơ tầng Đông Nam Á. Mặt dù do ảnh hưởng của các cuộc giao lưu văn hóa có làm mờ nhạc đi cái cơ sở văn hóa tầng nền ấy, nhưng ở Việt Nam, cái cơ tầng Đông Nam Á vẫn còn in đậm trên mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Đặc biệt là âm nhạc, mà nhạc cụ truyền thống Việt Nam một địa chỉ lưu giữ những dấu vết đó.

          Hệ thống nhạc cụ Việt Nam có nhiều chủng loại khác nhau. Dựa vào chức năng của nó với cuộc sống, chúng tôi tạm chia hệ thống này thành hai loại: loại nhạc cụ gắn đời sống sinh hoạt bình thường và loại gắn đời sống tín ngưỡng tâm linh. Cũng phải nói ngay rằng cách phân loại này chỉ mang tính chất áng chừng và tương đối. Bởi đối với các nhạc cụ của người Việt và một số tộc người khác, một nhạc cụ có thể dùng cho cả hai trường hợp trên. Mộ điều nữa mà chúng tôi cũng được xin thưa trước, Việt Nam có nhiều tộc người  nên tương ứng với nó sẽ có nhiều nhạc cụ, giống và khác nhau. Bởi thế, chúng tôi chỉ chọn một số nhạc cụ của vài tộc người có tính tiêu biểu, với cách chọn như thế cốt là để phục vụ chính cho việc luận giải vấn đề nêu trên.

          Loại nhạc cụ gắn với đời sống sinh hoạt hàng ngày

          Loại nhạc cụ này thường có cấu tạo đơn giản. Chất liệu để tạo nên những nhạc cụ đó thường lấy sẳn trong thiên nhiên. Có lẽ không thể khác được, vì khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, thiên nhiên tươi tốt nhưng, cũng không ít những tai họa đang rình rập con người. Vì thế, để tồn tại trong môi trường đó, các cư dân Việt Nam phải tìm sự cộng cảm trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Thế là những cọng lá, đoạn tre, nắm đất, vỏ ốc… cũng có thể trở thành phương tiện để giao tiếp, để kết nối tình cảm giữa bên trong và bên ngoài dẫu hình dáng có thô sơ, chất liệu có đơn giản nhưng nhìn vào chiều sâu của nó, chúng ta sẽ thấy những dấu vết văn hóa xưa để lại. Chiếc khèn lá, khèn môi (của các tộc người thiểu số phía Bắc), chiếc sáo, tiêu, chiếc tù và… (của người Việt và một số tộc người khác) sẽ đánh thức chúng ta hình dung ra cái thời mà thiên nhiên còn hoang dã, ở đó tính cộng đồng gắn bện được đặt lên trên hết, Cây đàn bầu (người Việt), cây tính tẩu (người Thái), gợi lên hoài niệm về nguồn gốc của các tộc người, một mô típ truyện thường thấy ở các cư dân Đông Nam Á. “Nhiều nhạc cụ, thậm chí có những nhạc cụ vẫn còn mang dáng dấp của những công cụ lao động”, nhưng vẫn còn đó những ý niệm văn hóa của người xưa để lại. Chiếc đàn klongpút của người Ba na cũng vậy. Các nhà nghiên cứu dân tộc học âm nhạc cho rằng, khởi nguyên của nó là những chiếc ống trỉa hạt trên nương, sau đó được con người thẩm mỹ hóa bằng tư duy âm nhạc để trở thành nhạc cụ phục vụ cho chính nhu cầu tinh thần của họ. Đặc biệt cây đàn này thường do nữ giới sử dụng điều này dẫn gợi cho chúng ta một ý nghĩa sâu xa hơn về vai trò của người phụ nữ đối với việc sản xuất nông nghiệp. Như vậy, không còn nghi ngờ nữa, nhạc cụ gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày, đó là sản phẩm của dân gian. Tuy vật liệu để cấu tạo nên chúng là cái có sẳn trong tự nhiên, nhưng không phải là cái “sẳn có”, mà phải thông qua con người, để rồi bản thân nó chứa đựng những suy nghĩ và ý nguyện của chủ tể sáng tạo. Nói cách khác là, từ chất liệu sẳn có, muốn trở thành một nhạc cụ theo đúng nghĩa, con người đã phải tìm tòi, gửi gắm vào đó những tín hiệu mang tính biểu tượng và chứa đựng nhiều hàm nghĩa về văn hóa.

          Vậy thì, không phải ngẫu nhiên mà mỗi nhạc cụ đều gắn liền với một câu chuyện mang tính nhân văn. Chiếc trống cơm, không chỉ đơn thuần biểu hiện một nét ứng xử của người sống với người chết, mà nó còn phản ánh khá rõ tính chất nông nghiệp của cư dân Đông Nam Á nói chung, cư dân đất Việt nói riêng, đó là, lúc sử dụng người ta nhào cơm (không phải là bánh mỳ dán lên mặt trống. Và, qua cách tạo dáng hình trụ dài, hai mặt bưng bằng da, chiếc khăn trắng để làm quai đeo lên cổ, cũng như âm thanh của trống cơm, cho ta biết về triết lý âm dương của người dân đất Việt nằm trong cái tư duy chung của cư dân Đông Nam Á.

          Cây nhị gắn chặt với câu chuyện về nguồn gốc của hát xẩm. Ở tầng sâu của chuyện đó là một không gian thiên nhiên bao la hùng vĩ, cỏ cây, rừng rậm bạt ngàn. Trong khung cảnh đó, con người chỉ khi nào biết hòa mình vào trong thiên nhiên thì, thiên nhiên mới trả lại con người những gì đáng trả. Cái cốt yếu nhất ở đây đã được bộc lộ: con người Việt Nam nói riêng và con người Đông Nam Á nói chung, điều quan trọng nhất trong cuộc sống là trọng tình, trọng nghĩa.

          Hát trống quân, một hình thức ca hát dân gian của người Việt thường diễn ra vào những đêm trăng thanh, gió mát. Trong diễn trình hát, có một nhạc cụ duy nhất không thể thiếu được đó trống quân (thổ cổ). Thổ cổ được lập theo nguyên tắc âm dương tương sinh. Vì con người sống ở, thác gửi, đều nhờ đất. Đất là cái linh thiêng và bí ẩn của con người trong quá khứ, hiện tại, cũng như trong tương lai. Người ta chế tác ra nhạc cụ trống quân một cách đơn giản, nhưng lại mang đầy hàm nghĩa về văn hóa. Một hố nhỏ, đổ 100 vỏ ốc nhồi xuống đó, sau úp mâm lên miệng hố. Tiếp tục tăng dây thừng được ghim ở hai đầu, một nạng chống giữa mâm chia dây ra hai phần bằng nhau. Khi đệm cho hát, hai người dùng que gõ vào phần dây của họ. Tiếng trống thùng thình như lời của đất cùng với tiếng hát bay lên làm cho đất trời hòa quyện với nhau. Như thế là, ngoài vấn đề về âm dương tương sinh, có lẽ 100 vỏ ốc cũng nhắc nhở chúng ta cho chúng ta biết thêm ý nghĩa về truyền thuyết trăm trứng – cội nguồn của dân tộc. Mặt khác, nó cũng phản ánh cái tâm thức về tính phồn thực của mỗi người dân lao động nơi thôn dã.

          Còn nhiều ví dụ về các nhạc cụ truyền thống gắn với đời sống sinh hoạt hằng ngày, mà trong chiều sâu thẳm của nó là những giá trị mang tính nhân văn của cư dân nông nghiệp. Nhưng tựu chung lại, bất cứ loại nhạc cụ nào, của tộc người nào trên đất nước ta, đều mang dấu ấn văn hóa của cư dân Việt Nam xưa. Cho dù cách làm từng loại nhạc cụ có khó hay dễ, cho dù cấu trúc của mỗi loại nhạc cụ có phức tạp hay đơn giản, thì suy cho cùng, đó cùng là quá trình một tư duy mang tính thẩm mỹ của người dân đất Việt. Cách tư duy ấy có sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố, điều kiện tự nhiên, xã hội mà con người trực tiếp sống tại đó.

          Các nhạc cụ gắn với sinh hoạt hoặc đời thường thật đa dạng, không cầu kỳ lắm về cách tạo dáng, nhưng cũng không phải là quá dễ dàng khi chế tác chúng. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều thì, việc chế tác và giữ được cho chúng có đời sống lâu bền, phải cần đến những tri thức, kinh nghiệm. Điều đó cũng có nghĩa là, chủ nhân của các loại nhạc cụ này phải là người biết được những quy luật của thiên nhiên, cách chế tác nhạc cụ cũng là cách hòa của con người vào trong môi cảnh, môi trường thiên nhiên ấy.

          Loại nhạc cụ gắn với đời sống sinh hoạt tín ngưỡng

          Loại nhạc cụ này cũng vô cùng phong phú và đa dạng. Cho dù lớp thời gian cứ phủ ngày một dày thêm, nhưng trên thực tế các nhà khoa học, dưới nhiều hệ quy chiếu khác nhau,  đã cho chúng ta một niềm tin về cách lý giải ý nghĩa văn hóa của loại nhạc cụ gắn với đời sống tín ngưỡng.

          Trước hết nói về trống Đông Sơn được coi là biểu tượng của văn hóa Việt Nam, nói rộng ra nó là biểu tượng của một nền văn minh nông nghiệp Đông Nam Á. Ngày nay, do sự đa chiều về thông tin nên người ta biết rằng ngoài Đông Nam Á thì, nhiều nước châu Á cũng có trống đồng, chẳng hạn như Trung Quốc là một ví dụ. Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra sự khác nhau giữa trống đồng của Việt Nam Trung Quốc? Sự khác nhau đó suy cho cùng chính là cách chọn lựa để biểu hiện, hay nói cách khác, đó là tâm thức của chủ thể sáng tạo gởi gắm qua một nhạc cụ cụ thể - trống đồng.

          Tác giả Dương Thiệu Tống khi nghiên cứu về trống đồng, bằng trực giác nhìn vào những họa tiết trên trống và cách phân tích logic, ông cho rằng: giá trị tư tưởng của trống đồng là dịch. Trống Đồng Lạc Việt thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt cổ về vũ trụ, trời đất, vạn vật, con người. Trống đồng có ba phần:

          Từ vành 1 – 5 là nguyên khí của trời, từ vành 11 – 10 là chim, hươu, người. Như thế, sự khác biệt giữa trống đồng của ta với trống đồng Trung Hoa, Ấn Độ, giúp chúng ta nhìn thấy ở đâu đó cái riêng của dân tộc Việt Nam đã được khẳng định. Cái riêng này nó vừa khu biệt, vừa nằm trong cái triết lý chung về âm dương của khu vực Đông Nam Á, đó là “đất – trời, lạnh – nóng, đêm – ngày, âm – dương chuyển hóa và cân bằng lẫn nhau…” (3).

          Lại nữa, khi nhìn vào cách thức cũng như không gian sử dụng trống đồng của nhiều tộc người, chúng ta thấy rằng, nó không phải là một nhạc cụ bình thường mà là một nhạc cụ có tính thiêng. Ở người Mường, “trống đồng là biểu tượng của vật thiêng làm trung gian cho sự giao tiếp giữa con người và thần linh, giữa cõi sống và cõi chết, là tiêu biểu cho sức mạnh của cộng đồng, và sau này, khi xã hội có sự phân chia đẳng cấp thì nó trở thành biểu thị của quyền uy và sự giàu có của tầng lớp quý tộc…” (4).

          Qua lời phỏng dẫn trên, thế là ít nhất ở đây cũng hé lộ một điều về đời sống tâm linh tín ngưỡng của người dân Việt Nam nói riêng và của cư dân Đông Nam Á nói chung, đó là tín ngưỡng về phồn thực, vạn vật hữu linh.

          Nếu trống đồng là một nhạc cụ mà chủ nhân của nó phải kỳ công mới tạo ra những họa tiết trang trí, mang tính thẩm mỹ thị giác thì, cồng chiêng, các nghệ nhân cũng mất nhiều công sức xây dựng tính thẩm mỹ đối với thính giác. Cũng như trống đồng, cồng chiêng Tây Nguyên là một hiện tượng văn hóa đặc trưng của Tây Nguyên Việt Nam, đồng thời cũng là một hiện tượng văn hóa cổ của cư dân Đông Nam Á.

          Cồng chiêng có ở hầu hết các tộc người của Việt Nam và Đông Nam Á. Đặc biệt các tộc người Ê đê, Raglai, Mnông, Xê đăng… thuộc khu vực miền Trung – Tây Nguyên, cồng chiêng có mật độ khá dày đặc. Các cư dân ở đây, theo quá trình lịch sử đã tạo được một không gian văn hóa cồng chiêng độc đáo, mặt dù nó có những nét tương đồng nhưng lại không thể trộn lẫn với bất kỳ tộc người của nước nào trong khu vực. Chính vì thế mà thánh 11 – 2005, UNESCO đã công nhận Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam (cùng 42 di sản phi vật thể thuộc các nước khác) là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

          Các tộc người ở Tây Nguyên cho rằng: cồng chiêng là một loại nhạc cụ thiêng. Mỗi chiếc cồng, chiêng đều có một vị thần trú ngụ. Cồng chiêng càng cổ thì uy  tín của vị thần càng lớn. Vì thế, không bao giờ người dân Tây Nguyên đem cồng ra đánh bừa bãi, mà cồng – chiêng thường gắn với lễ hội, tức là gắn với không gian văn hóa chứa đựng tính thiêng nhất định: lễ thổi tai, mừng năm mới, lễ đâm trâu… có lẽ cũng do tính thiêng chi phối nên, những chiếc chiêng cổ có thể đổi được 3 -  con trâu, và gia đình nào sở hữu chiếc chiêng đó thì họ tin rằng sẽ được vị thần chiêng bảo trợ.

          Thế là ngoài tính thiêng, mỗi bộ cồng chiêng của các tộc người ở Tây Nguyên hàm chứa trong nó những ý nghĩa văn hóa khác. Nhìn ở chiều rộng trong biên chế của các dàn chiêng từ 3 – 6 chiếc và nhiều hơn, có thể thấy đó là sự phản ánh tính cộng đồng, tập thể gắn bện của thuở xa xưa. Ở góc nhìn hẹp hơn một chút, tức là cách đặt tên cho từng chiếc, chiếc trầm nhất giữ vai trò nền tảng cho giai điệu là chiêng mẹ, sau đó đến chiêng bố và những đứa con. Cách mà nghệ nhân dân gian đặt tên cho từng chiếc trong các bộ cồng chiêng như vậy, đã gợi cho chúng ta thấy một mô hình gia đình mẫu hệ lý tưởng thời xưa, hay nói cách khác, chế độ mẫu hệ đã in đậm nét trong biên chế dàn chiêng của các tộc người ở Tây Nguyên. Không chỉ có vậy, cách diễn tấu cồng chiêng đi từ âm sang dương, ngược chiều kim đồng hồ cùng hé mở người thời nay suy nghĩ và liên tưởng đến tục thờ mặt trời của cư dân Đông Nam Á cổ.

          Các nhạc cụ dùng trong lễ hội của tộc người Chăm cũng nhuốm màu văn hóa tâm linh một cách rõ nét. Mỗi nhạc cụ hoặc nhóm nhạc thường được gắn với từng lễ hội hoặc người hành lễ cụ thể. Điều đó giúp chúng ta nhận diện được các sắc thái văn hóa của người Chăm đã ánh xạ trực tiếp vào từng loại nhạc cụ.

          Kèn xaranai là một trong những nhạc cụ quan trọng của người Chăm. Nếu bộ ba nhạc cụ xaranai – trống ghì nằng –trống ba ra nưng, thì các nghệ nhân cho rằng xaranai là phần đầu của bộ ba đó. Cái quan trọng hơn, nghệ nhân dân gian người Chăm đã quan niệm cây kèn này có hồn, bởi thế chất liệu thường làm bằng gỗ quý hoặc sừng, thậm chí có chiếc được làm bằng ngà voi. Tín ngưỡng vạn vật hữu linh và triết lý âm dương vẫn còn hiện rõ trong việc các nghệ nhân ví các lỗ của kèn giống như thính giác, vị khứu giác của con người. “Lỗ trên (dăm) là dương, lỗ dưới là âm, cũng là đường thoát của hồn khi rời xác” (5).

          Cũng như cách phân chia các loại nhạc cụ của nhiều tộc người khác, quan niệm về vũ trụ, về tín ngưỡng của người Chăm rất đậm nét nhưng không phải lúc nào, trên một loại nhạc cụ có thể chỉ đâu là dấu vết của văn hóa tâm linh, hoặc đâu là phồn thực hay vạn vật hữu linh. Nhưng cách chia nào cũng vậy, nó chỉ mang tính tương  đối mà thôi. Chẳng hạn chiếc săng (tù và) được làm bằng vật liệu sẵn có là nhạc cụ thiêng, có uy lực dùng trong khoảng khắc khi bày xong lễ vật lên mặt đất, giữa đêm tối tiếng tù và cất lên để xua đuổi tà ma, tẩy uế. Trong lễ hỏa táng, lúc khâm liệm xong, tiếng tù và cất lên để gọi hồn vía người chết trở về nhận lương thực cho một hành trình mới. Như thế thì, ở đây chiếc tù và của người Chăm vừa là nhạc cụ thiêng dùng để thông linh với thế giới của người chết, vừa biểu hiện một cách ứng xử của người sống với người chết.

          Văn hóa tín ngưỡng phồn thực của thời xưa còn thể hiện quá rõ trong nghệ thuật của người Chăm nói chung và nghệ thuật âm nhạc nói riêng. Biểu hiện rõ nhất của sự tư duy ấy đã được nghệ nhân dân gian thổi vào trống ghì nằng. Đây là loại nhạc cụ đầy uy lực và sinh khí của người Chăm. Trong bộ ba nhạc cụ chủ chốt của người Chăm thì trống ghì nằng được coi là đôi chân vững chãi (xaranai là đầu, baranng là bụng, và ghì nằng là chân). Đặc biệt khi diễn tấu trống ghì nằng thường đi theo cặp đôi, chiếc to và trống đực, nhỏ hơn một chút là trống cái. Hai chiếc kê kéo nhau theo hình chữ nhân. Ngay trong một chiếc trống chúng ta cũng nhận thấy tư duy về triết lý âm dương khá rõ nét. Mặt lớn (mặt phằm) là âm, mặt nhỏ (mặt chang) là dương. Chính quan niệm trong âm có dương, trong dương có âm, âm dương giao hòa đối đãi, nên mặt âm bao giờ cũng kê nghiêng tiếp đất, mặt dương hướng lên phía trên. Và đặc biệt là sự kết hợp âm dương hài hòa đó không chỉ về mặt hình thức mà còn thể hiện ở những bài bản diễn tấu, Cho tới ngày nay,  các nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng, trống ghì nằng có số lượng bài bản phong phú hơn bất cứ loại nhạc cụ nào khác, 76 bài, mà mỗi bài lại ứng với hoàn cảnh khác nhau. Cũng theo khảo sát của Hải Liên – nhà nghiên cứu âm nhạc Chăm – thì trong số 7 bài bản trên, chỉ có 6 bài vui chơi, các bài còn lại đều dùng vào mục đích lễ hội.

          Một nhạc cụ nữa của người Chăm cũng chứa đựng những dấu vết về quan niệm âm dương khá rõ nét, đó là kanhi (gannhi). Nó cấu trúc giống như cây đàn nhị của người Việt, nhưng điều khác cơ bản là chiếc hộp cộng hưởng của kanhi không phải ống bương, hoặc gỗ, mà phải là mai rùa. Mai rùa trong quan niệm không riêng của người Chăm, là sự hòa hợp của đất trời, của âm dương. Không chỉ dừng lại ở đấy, trong quan niệm của người Chăm, cây kanhi còn là một nhạc cụ mang tính thiêng. Trong đợt điền dã tại tỉnh Ninh Thuận năm 2002 khi gặp nghệ nhân Trượng Tốn, ông cho biết: Cây kanhi trước khi đem sử dụng  phải được xông trầm và làm phép để “khai từ”.

          Cho đến nay khi nhìn lại hệ thống nhạc cụ của người Chăm rõ ràng số lượng không nhiều, nhưng với số lượng ấy, cái hàm lượng văn hóa chứa đựng những yếu tố tín ngưỡng phồn thực, vạn vật hữu linh và quan niệm về vũ trụ của họ còn in đậm trong từng nhạc cụ.

          Nói tóm lại, khi Việt Nam được nhìn nhận như một Đông Nam Á thu nhỏ, điều đó có nghĩa là văn hóa Việt Nam có chứa đựng những cơ tầng văn hóa của Đông Nam Á. Là cư dân nông nghiệp với nền văn minh lúa nước, điều kiện tự nhiên có rừng, biển, đồng bằng, núi cao, nhiệt độ nóng ẩm mưa nhiều, thiên nhiên ưu đãi nhưng không kém phần khắc nghiệt, nên người Việt Nam phải tìm ra nhiều cách để hòa cùng với môi trường ấy. Âm nhạc cũng là một cách hòa. Thực ra, âm nhạc là thuộc tính của con người với điều kiện nó được chấp nhận, vì chính bản thân âm nhạc không chỉ đơn thuần ở sự tổ chức và tư duy, không chỉ là sự sao chép lại thế giới hiện thực, mà nó phải được cách điệu mang tính văn hóa. Chính vì thế, khi nhìn vào nhạc cụ truyền thống Việt Nam (dù là nhạc cụ phục vụ cho đời sống tâm linh hay nhạc cụ dùng cho sinh hoạt hàng ngày) thì không chỉ đơn thuần là một công cụ âm nhạc, mà trong nó còn chứa đựng những ý nghĩa văn hóa sâu xa của dân tộc, hay nói chính xác hơn nhạc cụ truyền thống luôn chứa đựng suy nghĩ và ý nguyện của con người Việt Nam.

____________

1. Trần Quốc Vượng (Chủ biên), Cơ sở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Nội 1998, tr.53.

2,4. Phạm Đức Dương, Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb khoa học Xã hội. Nội, 2000, tr. 97.

3. Dương Thiệu Tống, Trống đồng Lạc Việt và Kinh  Dịch Trung Hoa, Tạp chí Văn Hóa – Nghệ thuật, số 3, 1999, tr. 60.

5. Hải Liên, Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm Ninh Thuận, Viện Âm nhạc, Nxb Âm nhạc, Hà Nội, 1999, tr. 32./.

Cập nhật ( 19/09/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online