Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Bạc Liêu arrow Kỷ niệm lần thứ 90 ngày ra đời bản DCHL (Võ Văn Dũng)
Kỷ niệm lần thứ 90 ngày ra đời bản DCHL (Võ Văn Dũng) PDF In E-mail
Người viết: Võ Văn Dũng   
08/10/2009

KỶ NIỆM LẦN THỨ 90 NGÀY RA ĐỜI BẢN DẠ CỔ HOÀI LANG

Trích diễn văn khai mạc lễ kỷ niệm lần thứ 90 ngày ra đời bản Dạ cổ hoài lang của ông Võ Văn Dũng – Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu

Vọng cổ, một bài bản quan trọng nhất trong đờn ca tài tử và sân khấu cải lương, gắn bó mật thiết với người dân Nam bộ, và nay đã có mặt ở mọi miền đất nước và đang lan dần ra đến cả năm Châu. Ai là người đặt nền móng đầu tiên của bài ca bất hủ đó? Chính là Cao VĂn Lầu, một nhạc sĩ tài danh của đất Bạc Liêu với tác phẩm “Dạ cổ hoài lang”.

Để tôn vinh giá trị của bài ca bất hủ này, tri ân công lao của  nhạc sĩ Cao Văn Lầu và các thế hệ nghệ  sĩ, nghệ nhân tiền bối đã có công phát triển bài Dạ cổ hoài lang trở thành bài vọng cổ tuyệt vời của dân tộc. Hôn nay, Tỉnh ủy, HĐND, UBND và Ủy ban MTTQ tỉnh Bạc Liêu long trọng tổ chức kỷ niệm 90 năm ngày ra đời bản Dạ cổ hoài lang.

Trước hết, thay mặt cho lãnh đạo tỉnh, tôi chân thành gởi đến các đồng chí lãnh đạo Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch, các bộ ngành trung ương, lãnh đạo các tỉnh thành, các nghệ nhân, nghệ sỹ, gia đình thân nhân các vị tiền bối cổ nhạc Bạc Liêu và toàn thể đồng bào, lời thăm hỏi ân cần và lời chúc tốt đẹp nhất.

Bạc Liêu là một tỉnh ở gần cuối miền đất nước, được hình thành muộn hơn so với nhiều tỉnh Nam bộ, nhưng lại là một địa phương có bề dầy lịch sử. Nơi đây từng diễn ra ba cuộc đấu tranh tiêu biểu của nông dân chống áp bức bóc lột  của thực dân Pháp và địa chủ, phong kiến (cuộc nổi dậy Tân Hưng 1924, sự kiện Chủ chọt Ninh Thạnh Lợi 1927, sự kiện Đồng Nọc Nạng nổi tiếng 1928). Sau năm 1930, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân Bạc Liêu tiếp tục ghi vào trang sử của mình những chiến tích hào hùng, vẻ vang: hai lần giành chánh quyền từ tay giặc mà không cần đỗ máu (lần thứ nhất vào ngày 23/4/1945, cùng ngày với giải phóng Huế; lần thứ 2 vào ngày 30/4/1975, cùng ngày nhưng trước giờ giải phóng Sài Gòn). Đây vừa là một nghệ thuật trong chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đồng thời cũng thể hiện sự nhân ái, bao dung, hào phóng của con người Bạc Liêu.

Đặc biệt, Bạc Liêu còn là quê hương của cổ nhạc, là nơi sản sinh ra phong trào đờn ca tài tử và nhạc lễ cổ truyền, bản vọng cổ ở Nam bộ mà tiền thân của nó là bản Dạ cổ hoài lang đã được nhạc sĩ Cao Văn Lầu thai nghén và cho ra đời tại đây từ chín mươi năm về trước.

Ngược dòng lịch sử, từ những năm đầu thế kỷ XX, ở Bạc Liêu đã xuất hiện phong trào đờn ca tài tử và nhạc lễ cổ truyền gây tiếng vang rất lớn lúc bấy giờ. Đến các thập niên tiếp theo, ở đây đã có một loạt các tác phẩm cổ nhạc ra đời, đa số đều là những sáng tác lớn trong cổ nhạc, một bộ môn nghệ thuật rất được quần chúng hâm mộ. Người đứng đầu phải kể đến là Nhạc Khị  (tên thật là Lê Tài Khí) được người đời tôn xưng là Hậu Tổ, ông là tác giả của bốn nhạc phẩm nổi tiếng:  Ngự giá đăng lâu, minh hoàng thưởng nguyệt, Phò mã giao duyên và Ái tử kê, đã được người đương thời gọi tôn là Tứ  bửu để đối xứng với Ngũ châu ở miền Đông. Những người thừa kế Nhạc Khị sau đó cũng đều để lại cho đời những tác phẩm độc đáo: Sư Nguyệt Chiếu người sưu tầm bảy bản Bắc lớn làm cơ bản cho Nhạc  lễ cổ truyền; Ba chột với 18 giai điệu, đứng đầu là bản Liêu Giang nổi tiếng; Trịnh Thiên Tư với nhiều tác phẩm biên  khảo có giá trị, trong đó có cuốn Ca nhạc cổ điển, một công trình nghiên cứu rất công phu về cổ nhạc và nhạc lễ cổ cổ truyền; Bảy Kiên với nhạc phẩm Trường tương tư, Nguyễn Văn Bình với bản Hứng trung thinh và nhiều tác phẩm khác… tất cả cũng đều là người Bạc Liêu.

Đặc biệt nhất trong số này là Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, vào đêm rằm tháng 8 năm 1919 tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường 2, thị xã Bạc Liêu), nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã chính thức công bố bản nhạc bất hủ của mình – bản Dạ cổ hoài lang. Trải qua 90 năm, Bản Dạ cổ hoài lang đã được phát triển mãnh liệt, từ nhịp đôi được các thé hệ nghệ sĩ phát triển thành nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32 và nhịp 64; từ 20 câu rút còn 6 câu rồi 4 câu cho đến tận ngày nay, với những nhạc sĩ nổi tiếng như: Trịnh thiên Tư nhịp 4, Năm Nghĩa nhịp 8 mở đầu cho kỷ nguyên vọng cổ, Mộng Vân nhịp 16, Trần Tấn Hưng nhịp 32, một giai điệu đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu ca diễn của đờn ca tài tử và sân khấu cải lương từ hơn nữa thế kỷ trước đến tận bây giờ. Và tất cả những nhạc sỹ này đều là người Bạc Liêu.

Đặc biệt, từ khi bản vọng cổ ra đời đã nhanh chóng trở thành  bài ca vua” trên sân khấu cải lương Nam bộ. Mỗi một giai đoạn phát triển, bản Dạ cổ hoài lang lại tự hoàn thiện mình, không ngừng thâm nhập sâu rộng trong lòng thính giả và người hâm mộ. Chính bản Dạ cổ hoài lang đã góp phần tạo tên tuổi cho nhiều thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ, danh ca, danh cầm, tác giả, soạn giả sân khấu cải lương, đồng thời khơi nguồn cho dòng chảy vọng cổ xuyên suốt trong lịch sử âm nhạc của nước nhà.

Hôm nay, “Dạ cổ hoài lang” đã phát triển trở thành Vọng cổ,  một bài bản quan trọng nhất trong Đờn ca tài tử và sân khấu Cải lương. Bản Vọng cổ đã gắn liền với các sinh hoạt đời thường của mọi tầng lớp nhân dân; là một bài bản, làn điệu dễ ca, dễ thuộc; hầu hết mọi lứa tuổi ai cũng thể hiện được; lúc buồn, vọng cổ giúp người ta giải bày tâm sự, vơi đi buồn tủi, lúc vui tươi, vọng cổ góp phần làm cho sự kiện càng hân hoan; bài vọng cổ đã đi cùng người Nam bộ theo suốt chiều dài lịch sử kể từ khi nó ra đời, không chỉ có tác dụng về mặt giải quyết nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân, mà còn có tác dụng cấu kết cộng đồng, đoàn kết sức mạnh dân cư, thắt chặt tình làng nghĩa xóm từ những ngày đầu khai mở đất, chống chọi với thiên nhiên, trong hai cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay. Thật chưa từng có một bản nhạc nào quen thuộc với mọi người và được xã hội hóa mạnh mẽ đên thế. Quả thật nhạc sĩ Cao Văn Lầu và các nghệ sỹ, nghệ nhân sau này đã đem lại cho chúng ta một sản phẩm tinh thần vô cùng kỳ diệu. Với ý nghĩa đó, “Dạ cổ hoài lang đã thật sự là niềm tự hào của người Bạc Liêu, ngày nay nó không chỉ là di sản văn hóa của Bạc Liêu mà còn là di sản văn hóa của Nam bộ, cả dân tộc và đã khắc sâu trong tim của hàng triệu người yêu thích âm nhạc dân tộc.

Hôm nay không chỉ riêng Bạc Liêu, mà tất cả những người yêu thích cổ nhạc và nghệ thuật sân khấu cải lương, nhất là những ca sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp ở mọi miền đất nước đều hướng về những bậc tiền bối  cổ nhạc với sự kính trọng và lòng biết ơn vô hạn.

Thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, tại thị xã Bạc Liêu hôm nay đã có những con đương mang tên Nhạc Khị, Cao Văn Lầu…; một rạp hát, một khu lưu niệm, một giải thưởng văn học nghệ thuật danh giá cấp tỉnh cùng mang tên người nhạc sĩ tài hoa – tác giả bản Dạ cổ hoài lang.  Các công trình văn hóa đó, không dám gọi đền ơn chỉ tạm gọi một chút lòng thành của người Bạc liêu xin kính dâng lên những nghệ nhân tiền bối đã bỏ nhiều công sức để dựng xây, bồi đắp nên truyền thống văn hóa của một vùng đất mà nơi đó có những con người phóng khoáng, nghĩa tình, giàu lòng mến khách.

Từ diễn đàn này, thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh, tôi kêu gọi tất cả tổ chức, cá nhân, các nghệ nhân, nghệ sĩ, các tổ chức nghệ thuật cổ nhạc, sân khấu Cải lương chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh – những người đang thừa hưởng di sản cổ nhạc của các  nghệ nhân tiền bối, hãy tiếp tục đóng góp thiết thực cho việc bảo tồn và phát huy giá trị của bản Dạ cổ hoài lang;  tiếp tục ủng hộ, sưu tầm các hiện vật, các giá trị có liên quan đến đờn ca tài tử để bổ sung cho khu lưu niệm Nhạc sĩ Cao Văn Lầu ngày càng được phong phú hơn.

Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Báo Bạc Liêu, Đài Phát thanh, Đài Truyền hình, Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Sử học tỉnh và các tổ chức có liên quan cần xác định cho được bản gốc của bài Dạ cổ, trên  cơ sở đó tiếp tục truyền bá bản gốc đến mọi tầng lớp nhân dân.

Đối với Nhạc lễ cổ truyền cũng là di sản thứ hai của Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu và các ngành có liên quan cũng có kế hoạch sưu tầm, kế thừa không để mai một bộ môn nghệ thuật đã gắn liền với đời sống tâm linh của nhân dân ta.

Sở Khoa học Công nghệ cần đặc biệt quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để có nhiều đề tài nghiên cứu khoa họa xã hội nói chung và cổ nhạc Bạc Liêu nói riêng để làm cho xã hội hiểu nhiều về kho tàng cổ nhạc của một vùng đất một thời là cái nôi đờn ca tài tử của Nam bộ, để qua đó tự hào, giữ gìn và phát huy ở một tầm cao mới.

Tôi cũng trân trọng đề nghị Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch quan tâm xem xét, thẩm định để công nhận bản Dạ cổ hoài lang là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Dạ cổ hoài lang là di sản văn hóa không riêng của Bạc Liêu mà còn của cả Nam bộ; bản vọng cổ là món ăn  tinh thần không thể thiếu của mỗi người dân Nam bộ. Do đó tôi trân trọng đề nghị Hội Văn học – Nghệ thuật các tỉnh, bằng những việc làm thiết thực, tích cực để hầu hết người dân Nam bộ đều tự hào, biết, thuộc và hát được bài Dạ cổ hoài lang, ca được một bài vọng cổ; phát động mạnh phong trào đờn ca tài tử, nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô sân khấu cải lương, để làm giàu đời sống tinh thần của nhân dân ta. Làm được điều đó, chính là đã giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của chúng ta.

Nam bộ, Miền Tây, Bạc Liêu còn nghèo về kinh tế, nhưng chúng ta không nghèo về văn hóa. Phát huy bản sắc văn hóa sẽ là động lực để phát triển kinh tế và do đó kinh tế sẽ vững bền.

Xin kính chúc sức khỏe  và cảm ơn toàn thể đại biểu.

Cập nhật ( 27/09/2014 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !