Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Chèo thuyền chiến một cực hình thời trung cổ (Hoàng Ly)
Chèo thuyền chiến một cực hình thời trung cổ (Hoàng Ly) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
08/10/2009

CHÈO THUYỀN CHIẾN MỘT CỰC HÌNH THỜI TRUNG CỔ

* Hoàng Ly

Cho đến tận bây giờ, chữ “Galère” (thuyền chiến thời trung cổ ở Châu Âu) còn mang ý nghĩa một thử thách cam go, trong thực tế, ngày xưa, nó chứa đựng sự kinh hoàng gấp bội. Số phận những kẻ chèo thuyền (Galérien) còn hằn bằng chữ máu trên trang sử.

Thoạt tiên, những tay chèo thuyền chiến, cũng giống như mọi thủy thủ khác, là những người tình nguyện để thoát khỏi cảnh đói nghèo cùng cực ở quê nhà. Tuy kỷ luật rất hà khắc, các hình thức trừng phạt đáng sợ: cắt hai tay nếu đào ngũ, chặt chân nếu tái phạm, nhưng ít ra những kẻ bất hạnh ấy còn chắc chắn được trả tiền công và được ăn uống hàng ngày. Sống trên đất thì chẳng được như thế.

Thế nhưng công việc trên thuyền chiến khủng khiếp quá khiến việc tuyển mộ ngày càng khó khăn, và thế là người ta sử dụng tù nhân. Đầu tiên là những kẻ “tà đạo” (người Thổ hay Barbaresque – người Ả Rập Bắc Phi), rồi đến các tội thường phạm và cuối cùng cả kẻ vô tội! Xuống thuyền chiến vốn bị coi là án phạt đổi ngang lấy án tử hình, dần dần được sử dụng cho cả những khinh tội! Người ta đẩy xuống thuyền cả tên trộm táo, kẻ lang thang, và sau cùng, sau các cuộc chiến tranh tôn giáo, là hàng loạt tín đồ Tin lành, trong số đó biết bao ông già và trẻ nít…

Bị đưa xuống thuyền, họ biến thành một tập hợp hỗn tạp mà bọn canh gác dong đi như dong đàn bò đến lò sát sinh. Marteilhe, một tín đồ tin lành bị kết án chèo thuyền chiến, đã để lại những trang chứng tích đau đớn: “Đến Paris, những người bị kết án bị lùa vào một cái hầm đầy những thanh xà bần gỗ sồi buộc những xích sắc lớn tận cùng bằng một cái vòng. Người ta gác đầu của tội nhân lên thanh xà, tròng cổ họ vào cái lòng rồi dùng búa tạ tán vòng lại. Cứ hai mươi người một lượt, cho đến khi cả 500 con người nằm không nằm được hẳn, ngồi cũng không mà đứng cũng không, họ cứ sống co quắp như thế trong nhiều tháng”.

Rồi đến giờ lên đường, những kẻ ghẻ lở chấy rận xích vào nhau làm thành con rắn nhiều chân thảm hại bò qua suốt nước Pháp “dưới một trận mưa gậy gộc và roi gân bò tuy khủng khiếp nhưng cũng không làm sống động những con người rét cống và ngủ lịm, có kẻ đã chết cứng, có kẻ đang ngắc ngoải. Trong khi bọn cung thủ cầm xích lôi họ đi như lôi xác những con vật chết, thân thể họ đầm đìa máu”. Trên đường đi, họ chìa bát xin nước uống, những người đàn bà bảo họ: “Nơi chúng mày đến ấy thiếu gì nước!”.

Những kẻ chèo thuyền đi qua suốt nước Pháp đã đến các hải cảng: Brest, Toulon hay Dunkerque. Trước mặt họ là những kẻ chèo thuyền rất thấp, dài khoảng 40m, rộng 5-6, trông giống một loại ụ nổi bị gió đánh lắt lay. Họ sống ở đó không có mái che, phơi trần trước nắng mưa, chỉ một con sống dâng cao là tất cả đều trắng mắt. Thuyền cũng có buồm bổ sung cho sức người,, nhưng vì thuyền có độ mớn nước thấp và không vững vàng nên người ta rất tránh căng buồm. Thời giáo chủ Richelieu được tôn là Đại tôn sư ngành hàng hải, số lượng thuyền chiến được tăng gấp bội, mỗi thuyền có 250 tay chèo chia thành 26 hàng mỗi bên, người chèo chân bị xích vào ghế, xích đủ dài để kẻ bị xích có thể trèo lên thành thuyền khi cần giải quyết nhu cầu vệ sinh (thậ là mạo hiểm khi biển không lặng!).

“Chỉ một đám may cũng làm thuyền chiến kinh hoàng”, ông Colbert nhà tổ chức hải quân Pháp đã than như thế. Những con tàu mỏng manh ấy lúc nào cũng bị đe dọa lật úp, ném xuống biển 5-6 trăm con người. Ngoài số tù khổ sai, trên thuyền có hàng trăm lính, hàng trăm thủy thủ, hai chục tay súng, hàng chcụ lính hầu và hàng chục sĩ quan. Lại còn ba nhân vật đặc biệt: cha tuyên úy, người viết sách và y sĩ. Rồi bọn coi tù.

Bọn người tàn bạo này có toàn quyền sinh sát đối với các tay chèo. Thời Trung cổ, để trừng phạt những tội nặng, người ta không ngần ngại lấy dùi nung đỏ xiân lưỡi hay xẻo mũi họ. Rồi dần dần chế độ có vẻ “dịu dàng” hơn: người ta bằng lòng với việc phạt tù chung thân. Phần lớn những tay chèo dưới thuyền chiến bị phạt 3 năm chẳng mấy chốc sẽ bị kết án chung thân vì tội này tội nọ…

Sự tàn ác trên thuyền lắm khi bị đẩy đến độ điên cuồng. Marteilhe kể lại môt lần, trên cửa sông Tamise, một viên trung úy được lệnh đuổi theo một tàu buồm của Anh, đã hối thúc các tay chèo với nhịp độ ghê sợ. Khi thấy địch thủ có cơ chạy thoát, hắn điên lên ra lệnh: “Đao phủ! Đánh thật nhanh thật mạnh cho lũ chó này động đậy! Hãy chặt một cánh tay của một đứa làm gậy mà đán những đứa kia!”. Đó là cách làm mà tên trung úy đã thấy trên thuyền của các hiệp sĩ xứ Malte – những kẻ mang tiếng là chiến đấu để nêu gương bác ái! May sao lần ấy gã cai tù lại nhân đạo hơn tên sĩ quan, y không chịu nghe lời, và vài phút sau, một viên đạn từ tàu Anh đã giết chết tên trung úy điên cuồng!

Sau đây là một đoạn miêu tả cảnh đánh đòn kẻ phạm lỗi trên thuyền: “Người ta lột trần truồng kẻ bất hạnh rồi bắt hắn nằm úp bụng xuống, bốn người giữ chặt hai chân hai tay. Một tên thổ vạm vỡ dùng hết sức quật bằng một sợi  thừng, mỗi gậy quật ra vết dập đến một pouce (gần 3cm) trên lưng tội nhân. Hiếm có ai bị đánh như thế mà sau 10-12 roi không cứng đờ và lạnh ngắt. Nhưng điều ấy chẳng khiến người ta ngừng tay, không đánh cho đủ số roi. 20-30 roi cho những lỗi nhẹ. Tôi đã thấy những người bị đánh 50-80, đến cả 100 roi. Những người ấy không bao giờ đứng dậy nữa. Sau khi “con bệnh” khốn nạn nhận đủ số roi chỉ định, người thợ cạo của thuyền đến chà dấm đặc và muối lên cái lưng bầm xé của anh ta, để làm cho tấm thân khốn khổ kia lấy lại cảm giác và ngăn ngừa hoại thư”. (Hồi ức của Marteilhe).

Các tay chèo phải sử dụng những thân cây sồi rừng dài 12m, khua lên tạo một vòng cung rộng. Mỗi nhát chèo, tay chèo ngồi gần đi lối giữa buộc phải đứng lên cùng với động tác khua mái chèo. Bốn người hai bên anh ta, vai sát vai, tiếp theo động tác ấy vá dồn hết sức nặng của cơ thể lên cây sào. Khi mái chèo cắt nước, nó nặng đến vài tấn, nhưng ra khỏi nước thì nó bay lên, kéo theo mọi người-lúc ấy hai chân họ giữ thăng bằng trên một tấm ván mỏng, còn thân mình thì ở tư thế chao đảo. Chỉ một sai lêch vào lúc cập bến là tất cả các tay chèo sẽ lăn nhào và bị các thân cây nghiền nát.

Trong lúc ấy, bọn cai vẫn không ngớt hét lác và vừa đi dọc thuyền vừa quất roi làm nhịp theo một hệ thống hiệu lệnh bằng còi phức tạp.

Các tay chèo phải làm việc có khi tới 20 giờ liền. Nhiều người đã kiệt sức, không chỉ vì roi vọt. Bởi khẩu phần của họ chỉ có thế này: mỗi ngày 1kg bánh mì và 100g xúp đậu tằm. Một năm được 4 bữa thịt “Vua ban”. Làm sao sống nổi với khẩu phần như thế? Người tù phải tìm cách để có tiền mua thêm thức ăn và rượu – nhất là rượu – từ chính bọn cai tù. Tiền ở đâu? Nếu tội nhân không giấu được một ít tiền qua các cuộc lục soát, thì họ kiếm tiền bằng việc đan! Chỉ và kim đan là điều lo toan chủ yếu của các tay chèo, những con người bị xiềng vào ghế lại bắt tay vào công việc duy nhất họ có thể làm. Bọn cai tù cung cấp sợi bông và trả cho họ  tiền công đan những chiếc mũ và bít tất. Sau đó chúng lấy lại tiền của họ để đưa cho họ rượu. Sự bót lột hoàn toàn khép kín!

Để chống cự với chế độ khủng khiếp ấy, những kẻ tội đồ có ba chỗ dựa.

Đầu tiên là tôn giáo. Hiển nhiên phần lớn những kẻ kia sẽ cười nhạo cái thủ tục mỗi năm một lần dự lễ ban thánh thể, chung cho cả người công giáo, tin lành và dị giáo. Dẫu sao cũng không thể chối cãi rằng một số cha tuyên úy đã tìm cách chân thành làm dịu bớt số phận của họ, như Thánh Vincent de Paul, người đã được phong làm Tổng tuyên úy các chiến thuyền.

Niềm an ủi thứ hai – hữu hiệu hơn chăng? – là khoái lạc xác thịt. Kể cũng lạ, trong cái chế độ mà họ bị tước đoạt tất cả, gần như bị đọa đày đến chết, người ta lại để cho họ một khoảng tự do đáng ngạc nhiên: “Không chỉ vợ hợp pháp của kẻ tội đồ thường đi theo họ đến tận Toulon, mà còn cả đóng gái điếm đến với họ và các tay chèo làm việc với các cô trước mặt mọi người, bên dưới các băng ghế”, Marteilhe viết.

Cuối cùng, nhờ mùa đông – Mùa này không thể ra biển, các tay chèo được nghỉ ngơi. Và cũng đáng ngạc nhiên, lúc này họ được hưởng một thứ bán tự do. Một số làm việc trên đất, số khác thậm chí có thể tiến hành những kiểu buôn bán nhỏ ở cảng. Trong khi chờ đợi mùa xuân trở lại…/.

Cập nhật ( 08/10/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online