Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Mấy ý kiến về thay đổi chữ viết (Phạm Thị Kim Anh)
Mấy ý kiến về thay đổi chữ viết (Phạm Thị Kim Anh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/10/2009

MẤY Ý KIẾN VỀ VIỆC THAY ĐỔI CHỮ VIẾT

* Phạm Thị Kim Anh

1.Chữ viết tay là một chữ dùng tay để viết bằng bút trên giấy (hoặc bằng phấn trên bảng…), bao gồm hai loại: chữ cái viết thường (CCVT) và chữ cái viết hoa (CCVH). Giai đoạn vừa qua có hai bộ chữ viết tay song song tồn tại trong các nhà trường. Bộ chữ viết tay được thực hiện từ năm 1980 trở về trước gọi là chữ viết truyền thống (CVTT); TỪ 1980 đến nay gọi là chữ viết cải cách (CVCC). Trong lần chỉnh lí theo Thông tư số 29/ TT ngày 25/9/1986 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo, loại CCVT cải cách về cơ bản quay lại CCVT truyền thống, chỉ những chữ có độ cao 2 đơn vị là vẫn giữ nguyên; bộ CCVH không thay đổi. Cũng theo sự điều chỉnh này, tại các trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, các trường tiểu học, bên cạnh việc luyện viết theo mẫu CCVT cải cách đã chỉnh lí còn có việc tập viết thêm mẫu CCVH truyền thống.

Sau thời gian trên dưới 20 năm sử dụng các mẫu chữ như ở trên, dư luận lại dấy lên ý kiến chữ viết của học sinh hiện nay xấu quá, đề nghị Bộ Giáo dụcvà Đào tạo cho thay đổi chữ viết. Và rồi, trên các phương tiện thông tin tại chúng gần đây nhất đưa tin, Bộ Giáo dục và Đào Tạo quyết định vào năm học 2002-2003, học sinh tiểu học (lớp 1) phải viết theo mẫu CVTT, cụ thể là quay lại mẫu CCVH truyền thống!

Là người đã có 20 năm giảng dạy ngôn ngữ.

1. Tiếng Việt ở trường sư phạm; đã đào tạo hàng chục ngàn giáo viên tiểu học, sinh viên cao đẳng, đại học; đã chấm thi, chấm kiểm tra bài viết của hàng chục vạn lượt học sinh, thí sinh, sinh viên thuộc các cấp, các ngành, các trình độ… Khác nhau, chúng tôi nhận lấy quyết định trên có gì đó vội vã, không ổn. Qua thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy, chúng ta rất tán đồng ý kiến của GS.TS. Đinh Văn Đức (Báo Giáo dục và Thời đại Chủ nhật, số 14 ra ngày 7-4-2002): “Chữ viết là vấn đề của cả ngàn đời”, “Bản chất chữ viết ảnh hưởng rất ích đến vấn đề xấu hay đẹp”… Trước khi đưa ra ý kiến của mình về chữ viết đẹp, xấu cùng một số kiến nghị góp phần hạn chế tình trạng chữ viết xấu của học sinh hiện nay, chúng tôi muốn điểm qua một số quy luật đang hiện diện trong bộ chữ viết tay hiện hành.

2. Điều quan trọng cần phải thấy là sự tồn tại, sự thay đổi của ngôn ngữ nói chung, chữ viết nói riêng, luôn chịu sự chi phối của hai loại quy luật chính: quy luật nội tại (quy luật bên trong) là những quy luật từ chính bản thân ngôn ngữ- chữ viết (chẳng hạn như nguồn gốc, loại hình,cấu tạo…) và những quy luật ngoại tại (quy luật bên ngoài) là những quy luật nảy sinh từ môi trường bên ngoài, ảnh hưởng, tác động vào ngôn ngữ- chữ viết (chẳng hạn những đặc điểm về lịch sử, văn hóa ,khoa học- kỷ thuật…). Hai loại quy luật này song song tồn tại và tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình ngôn ngữ - chữ viết tồn tại, phát triễn. Nhiều khi, các quy luật ngoại tại buộc phải chấp nhận thích ứng các quy luật nội tại và ngược lại, các quy luật nội tại buộc phải thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp, đáp ứng được các yêu cầu của quy luật ngoại tại.

2.1. Bàn về những quy luật nội tại của  chữ viết hiện nay, ta cần thấy hai bộ chữ CVTT và CVCC về cơ bản là giống nhau, điều dựa vào chữ Quốc ngữ - dùng chỉ lái chữ Latin để ghi âm tiếng Việt. Nghĩa là hai bộ chữ nói trên, dù thay đổi dạng thức, con chữ nào đi nữa thì vẫn mang những ưu điểm, nhược điểm của chữ Quốc ngữ. Những điểm mạnh, điểm yếu này, ai cũng thấy, cũng như mong muốn cải tiến, xóa bỏ những hạn chế của nó là vấn đề luôn được đặt ra, song không thể thực hiện ngay được.

Đặc điểm của tiếng Việt là thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (phân tích tính). Một trong những biểu hiện của đặc điểm này là trên chữ viết, các âm tiết (còn gọi là tiếng) của từ không được viết liền mà tách rời ra. Bất kể từ nào, dù chỉ có một âm tiết (ô, có, bàn,nói…) hay đến 4 âm tiết (vô tuyến truyền hình, lúng ta lúng túng…) cứ mỗi lần viết xong một âm tiết lại phải nhấc bút lên để viết tiếp âm tiếp khác. Tính phân tiết này có ưu điểm là dễ đánh vần, dễ đọc dễ viết… Song lại có hạn chế là sẽ giảm tốc độ viết do cứ phải liên tục nhấc bút, làm tăng số lần cách quãng trong một từ nên viết tốn giấy, tăng số lần xuống dòng. Những hạn chế này, không có ở loại hình ngôn ngữ hòa kết – tổng hợp, viết liền theo cấp độ từ như chữ viết tiếng Anh, Nga, Pháp…

Cùng với đặc điểm trên về loại hình, riêng chữ viết tiếng Việt, lại có những đặc điểm nữa gây trở ngại không nhỏ đến tốc độ viết. Đó là có nhiều dấu ghi thanh: 5/6 thanh có dấu; có nhiều dấu phụ trong bộ chữ cái. Để ghi các yếu tố trong cấu trúc trong âm tiết tiếng Việt, bộ chữ cái (29 chữ) phân bố các chữ có dấu phụ như sau: ghi phụ âm đầu có 5 chữ (t, th, đ, tr, gi) ghi âm điệm: không có; ghi âm chính: có 13 chữ (i, ê, iê, yê, ia, ư, ơ, â, ă, ươ, ưa, ô, uô) trong đó iê, ươ, mỗi chữ có 2 dấu phụ; ghi âm cuối có 2 chữ (t,i). Nếu coi 5 dấu ghi thanh là 5 dấu phụ, thì tổng cộng, bộ chữ viết tiếng Việt có 27 dấu phụ.Âm tiết nào cũng có thanh điệu. Ngoại trừ âm tiết có thanh ngang là không phải đáng dấu thanh, còn lại âm tiết nào cũng phải đánh dấu thanh. Vậy là, ngoài việc nhấc bút sau mỗi âm tiết, lại phải nhấc bút đánh dấu thanh, ghi dấu phụ cho mỗi con chữ rất mất thời gian. Âm tiết có nhiều dấu phụ nhất là 5 dấu phụ, ví dụ: thiệt, tưới… Có nghĩa là với loại âm tiết này, phải 6 lần nhấc bút để viết. Còn lại, phổ biến hơn là loại âm tiết phải 4,5 lần nhấc bút (3.4 dấu phụ). Mà tất cả những lần đó đều làm giảm tốc độ viết.

Những đặc điểm trên của chữ Việt gây nên những hạn chế không thể khắc phục ngay được: viết rời từng tiếng, nhiều dấu ghi thanh, nhiều dấu phụ trong các con chữ. Những hạn chế này khiến cho trẻ đầu tập viết rất hay quên dấu đánh phụ; làm giảm tốc độ soạn thảo trên máy; phải chế tác thêm một số ký tự chỉ có ở tiếng Việt cho máy vi tính…

Xét về các mẫu chữ hiện hành, CCVT cải cách đã trở lại dạng thức CCVT truyền thống song những chữ d, đ, h, k, l, g, y… có độ dài 2 đơn vị, chữ t có độ dài 1,5 đơn vị lại có hạn chế làm  hãm tốc độ viết (nhất là với trẻ lớp 1, luyện viết bộ chữ này rất vất vã). Một số chữ vẫn phải nhấc bút nối các nét: M, N… CCVH cải cách dựa trên dựa trên các nét của mẫu chữ in hoa có đường nét đơn giản, cứng cáp, dễ viết song lại có nhược điểm là nhiều nét rời, phải nhiều lần nhấc bút nên viết không nhanh: E, Đ, G, H, Y…Như vậy, ở cả hai bộ chữ đếu có những ưu điểm, nhược điểm nhất định mà việc lựa chọn mẫu không thể không cân nhắc kỹ.

Nhân đây, chúng tôi cũng muốn nói thêm vế bộ sách tiếng Việt lớp 1 hiện hành của Trung tâm Công nghệ Giáo dục có rất nhiều ưu điểm nổi bậc đã được thực tế kiểm chứng. Chúng tôi chỉ có đôi điều trao đổi về kênh chữ viết của sách mong các nhà biên soạn lưu ý thêm. Về mẫu chữ hoa G và Y (tập 1 trang 128) có độ dài là 4 đơn vị, theo chúng tôi nên rút bớt thành 3 đơn vị để dễ viết. Việc trình bày của hai con chữ này ở bộ sách không nhất quán. Ở tập 1, độ dài là 4 đơn vị (bài trang 79, 99, 111) nhưng ở tập 2, độ dài lại là 3 đơn vị (bài trang 7, 51, 77, 79, 113, 115, 119). Về chữ cái ghi tên bài học, Mẫu chữ cũng chưa hợp lí, nhất quán. Cầu thống nhất ghi chữ cái đầu của tên bài và chữ cái của tên riêng bằng con chữ in hoa. Ví dụ: Chim rừng Tây Nguyên, Sông Hương, Nước Việt Nam ta… không nên ghi tất cả các con chữ của tên bài bằng chữ in hoa, gây khó khăn cho trẻ khi tập viết. Ví dụ những tên bài sau của sách Tiếng Việt tập 2 in là: Các Vua Hùng (trang 68), Phù đổng thiên vương (trang 72) An dương vương (trang 76) và tên các bài trang: 82, 92, 96, 98, 104, 110, 118, 124. Không rõ đây là do dụng ý hay do sơ suất của người làm sách, người chế bản?

2.2. Về những quy luật bên ngoài tác động vào chữ viết, có thể kể ra những nhân tố như: trình độ dân trí, văn hóa, thói quen, quan niệm thẩm mĩ, khoa học kỹ thuật, giao lưu quốc tế, thông tin đại chúng, in ấn…

Chẳng hạn nói về quan niệm thẩm mĩ, có người thích bộ CCVH cải cách vì đường nét chân phương, giản dị, cứng cáp, dễ viết. Về trình độ dân trí, tạm lấy mốc là năm 1975, ta đã thấy có sự khác biệt lớn. Sau năm 1975, số người đi học ngày một đông, học bậc cao ngày một nhiều. Lượng tri thức được tiếp nhận do sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông, ấn loát ngày một phong phú, thuận tiện, hiện đại. Trong các trường học, các cấp học, tình trạng luyện thi, dạy học thêm tràn lan quá tải… Chữ viết – phương tiện quan trong nhất để trao dồi học tập, nâng cao dân trí đương nhiên phải chịu tất cả những áp lục do thời đại mang đến.

Trướng sự tác động của những quy luật ngoại tại này, chữ viết buộc phải thay đổi (không chỉ ở nước ta mà ở nước khác cũng thế). Bởi nếu nó chỉ toản ưu điểm thì hà tất phải cải tiến. Với tinh thần ấy, sự ra đời của mẫu CVCC vào năm 1980 theo qua điểm của chúng tôi là cần thiết để chữ viết được tốt hơn, hợp lí hơn. Nhất là trong thời đại khoa học phát triển như hiện nay, những yêu cầu về sự đơn giản con chữ, về tốc độ viết nhanh cần phải được coi trọng hàng đầu.

3. Qua hơn 20 năm với bộ CVCC hơn 15 năm với bộ CVTT được dùng song hành trong các nhà trường, liệu đã đủ thời gian để chúng ta rút kinh nghiệm về những việc làm vội vã, thiếu đồng bộ?

Thực tế cho thấy, dù thay đổi chữ viết thế nào đi nữa thì cũng không thể chấm dứt được tình trạng viết ẩu, viết xấu, viết ngoái như gà bới. ví cốt lõi vấn đề không phải tại bộ chữ. Việc thay đổi chữ viết dù khó, dù tốn kém, song còn dễ hơn nhiều, “rẻ” hơn nhiều, so với việc khắc phục thói viết cẩu thả, tùy tiện của người viết, người học; sự thiếu trách nhiệm của người dạy…

Nghiên cứu chương trình các cấp học, chúng tôi thấy rằng việc luyện chữ thường xuyên có tính bắt buộc từ lớp 1 đến hết học kì 1 lớp 4. Từ sau đó trở đi, yêu cầu này không còn nữa. Việc nhắc nhở, trừ điểm chữ xấu ở các lớp về sau mang tính tùy hứng (chỉ những bài viết quá xấu mới bị trừ điểm một cách hình thức chiếu lệ), mà cũng chỉ chủ yếu quy vào các bài kiểm tra ngữ văn, do các giáo viên có trách nhiệm tiến hành. Rất hiếm và hầu như không có việc tập hợp học sinh viết xấu để luyện lại chữ viết. Cũng khó có thể làm được việc này khi phải học nhồi nhét quá tỉa như hiện nay, người học triền miên tốc kí cho kịp lời giảng, đâu còn thời gian viết nắn nót, cẩn thận? Huống hồ có nhiều người còn cho rằng vấn đề cũng chẳng phải nghiêm trọng, cấp bách gú lắm (!) Đó là chưa kể đến các nhân tố co sở vật chất khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chữ viết học sinh.

Việc tổ chức thi viết đẹp (cần phải thêm cả yêu cầu viết nhanh nữa) cho giáo viên và học sinh tiểu học là cần thiết song chưa đủ. Vì thực tế, số viết xấu lại tập trung nhiều ở các bậc cao hơn. Đã có không ích người có chuyên môn cao như giáo sư, bác sĩ, kỹ sư… chữ xấu đến mức không ai đọc nổi, trở thành giai thoại.

Những năm qua, khi bắt đầu học lên cấp phổ thông cơ sở, việc viết chữ theo mẫu CVCC không còn là yêu cầu bắt buộc, nghĩa là vẫn được viết theo mẫu CVTT. Chúng tôi nhận thấy là dù viết theo mẫu nào, thì tỉ lệ đẹp, xấu cũng ngang nhau. Ngay ở cùng một người, có giai đoạn viết theo mẫu CVTT, có giai đoạn lại theo mẫu CVCC mà cũng có bài đẹp, bài xấu ở cả hai loại chữ.

4. Tóm lại, từ những điều đã trình bày trên đây, chúng tôi muốn đưa ra một số kiến nghị. Trước hết là về bộ chữ mới (nếu có). Như đã nói, cả hai bộ chữ hiện hành đều có hai ưu điểm, nhược điểm. Do đó, cần đối chiếu từng con chữ tương ứng trong 2 bộ chữ để chọn ra những yếu tố tích cực cho con chữ mới với nguyên tắc phải đơn giản, thuận tiện, giúp viết nhanh, viết đều nét.

Cụ thể, hình chữ, nét chữ phải đơn giản, dễ viết, cần bớt đi những nét cong lượn, rườm rà, rắc rối. Do trẻ đầu cơ bắp tay còn yếu, cầm bút chưa quen nên khó viết được các nét cầu kì, thời gian tập viết nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến yêu cầu phải nhanh chóng nắm được chữ viết để học tiếng Việt và các môn. Độ rộng, độ dài con chữ phải phù hợp để đưa ra bút thuận tay. Dáng chữ có thể thẳng đứng hoặc hơi nghiêng về bên phải. Cần chọn con chữ viết liền nét để viết nhanh, hạn chế số lần nhấc bút. Không nhất thiết phải yêu cầu nét thanh nét đậm vì sau này phải viết nhiều, viết nhanh thì nhu cầu viết bút bi là hợp lí, thông dụng.

Chẳng hạn, về mẫu CCVH nên lấy mẫu A, B, C, M, N, K, L ở CVCC; lấy mẫu E, D, Đ, G, H, Y ở CVTT. Về CCVT, những chữ d, đ, h, b, k, l… nên đưa về độ cao 2,5 đơn vị; chữ l đưa về độ cao 2 đơn vị…

Kiến nghị về nội dung chương trình, phương pháp dạy học:

- Nên cân đối lại yêu cầu luyện đọc, luyện nói, luyện nghe với luyện viết ở các lớp tiểu học sao cho hợp lí. Hiện nay vẫn rất nặng nề về luyện viết mà luyện nghe, luyện nói bị xem nhẹ. Bộ sách tập viết cần được thiết kế lại cho phù hợp với trọng tâm, trọng điểm luyện viết, kích cỡ con chữ, tầm vóc học sinh.

          - Trong các bài kiểm tra, bài thi quan trọng ở các môn, các cấp, phải có một phần điểm cho chữ viết đẹp.

          - Thống nhất một loại giấy viết, một loại bút tốt nhất khi viết bài kiểm tra, bài thi.

          - Thống nhất học sinh từ lớp 1 đến lớp 7 viết bút máy. Từ lớp 8 mới được viết bút bi. Nên khuyến khích các em viết bút máy là chính.

          - Cần bãi bỏ ngay yêu cầu tập tô, tập viết chữ vào vở tập viết cho hệ mẫu giáo 5 tuổi mà chỉ cần cho tập nhận mặt chữ trong sách, tập viết trên bảng lớp. Vì bàng ghế thiết kế cho mẫu giáo thường không phù hợp với yêu cầu luyện viết; trẻ cũng không được hướng dẫn kỹ về cách cầm bút, về tư thế ngồi viết nên sẽ có những thói quen rất có hại mà về sau sẽ rất khó sữa.

- Với học sinh chữ viết xấu, cần phải có giờ tập viết ở các cấp học.

          - Với giáo viên, nhất là giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở, việc nêu gương viết chữ đúng – đẹp – nhanh là rất cần thiết. Do đó, phải đề ra yêu cầu chữ viết vào tiêu chuẩn thi đua, đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên ngang với yêu cầu phát âm chuẩn.

          Những suy nghĩ, kiến nghị trên đây của người viết xuất phát từ trăn trở, bức xúc của một người đã nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt, chữ Việt ở trường sư phạm. Mong muốn lớn nhất của chúng tôi là cùng với việc đưa ra một bộ chữ mới ưu việt hơn, Bộ Giáo dục và Đào tạo cấn đưa ra những giải pháp có tính đồng bộ, thực tế về nội dung chương trình, phương pháp dạy học để góp phần hạn chế tình trạng viết chữ xấu của học sinh.

Cập nhật ( 21/10/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online