Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Vùng truyền thuyết nghi lễ Lam Sơn (Mai Thị Hồng Hạnh)
Vùng truyền thuyết nghi lễ Lam Sơn (Mai Thị Hồng Hạnh) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
21/10/2009

VÙNG TRUYỀN THUYẾT NGHI LỄ LAM SƠN

* Mai Thị Hồng Hạnh

Thanh Hóa đã từng được nói tới như là một tiểu vùng văn hóa với những sắc thái độc đáo, “vừa hoàn chỉnh biệt lập tương đối lại vừa trung gian, chuyển tiếp trong tổng thể văn hóa xã hội Việt Nam” (1).Từ thuở khai sinh đến nay, tính thống nhất của vùng đất này rất cao, như một xứ sở thiêng liêng không thể chia cắt và luôn được bồi đắp suốt chiều dài lịch sử. Xứ Thanh giống như một nước Việt Nam thu nhỏ với sự đa dạng của các hệ sinh thái, có rừng núi, trung du đồng bằng và duyên hải mở ra biển Đông bao la. Cư trú trên vùng đất này là một cộng đồng đa tộc người sinh sống xen cài với nhau, nhưng lại thuộc các vùng sinh thái khác nhau. Trong quá trình lịch sử, sự giao lưu ảnh hưởng văn hóa giữa các tộc người, giữa các vùng đã tạo nên tính đa dạng – thống nhất của văn hóa xứ Thanh.

Với vị trí địa – chính trị, địa – văn hóa, vùng đất phiên dậu Thanh Hóa đã đi qua những chặng đường lịch sử lớn của dân tộc với những dấu mốc quan trọng. Thanh Hóa còn là vùng đất của các bậc đế vương sáng nghiệp (Vương triều Hồ, Lê, Nguyễn). Vương triều Lê, với vị vua sáng nghiệp Lê Lợi dựng nghiệp từ đất Lam Sơn, là một triều đại phong kiến lớn, rực rỡ, tiêu biểu cho một thời kỳ thịnh trị của quốc gia, xây dựng đất nước và phục hưng dân tộc. Ngoài những gì sử sách gi chép, thì trong tâm thức dân gian từ bao đời, những sáng tác dân gian về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hình thành, phát triển và tiếp tục được lưu truyền tạo nên một vùng truyền thuyết – nghi lễ Lam Sơn, một hiện tượng tiểu biểu của văn hóa xứ Thanh và đồng thời cũng là một hiện tượng độc đáo của folklore Việt Nam.

Từ góc độ vùng thể loại văn hóa, trước hết, cần phải thấy rằng, vùng truyền thuyết – nghi lễ Lam Sơn không phải là một vùng văn hóa tổng thể, mà là một hiện tượng văn hóa. “Vùng thể loại văn hóa là một không gian địa lý, nhất định, mà ở đó từng thể loại văn hóa (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu, âm nhạc ẩm thực, kiến trúc…) biểu hiện tính tương đồng, tính thống nhất của mình thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền” (2).

Lam Sơn và vùng truyền thuyết – nghi lễ Lam Sơn

Truyền thuyết – nghi lễ Lam Sơn được nảy sinh và lưu truyền trong một không gian địa – văn hóa độc đáo của xứ Thanh. Lam Sơn thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Vùng Lam Sơn là vùng đất Việt – Mường cổ. Khoảng thế kỷ XV, làng Cham, một làng cổ, đã có mặt với những ngôi nhà sàn một chái xinh xắn, cùng với núi Dầu, núi Mục soi bóng xuống dòng sông Lường bốn mùa nước trong xanh. Làng Cham bắt đầu khai sơn phá thạch từ cụ Lê Hối – cụ tổ của Lê Lợi. Trải qua các đời, đến Lê Lợi đã là một cộng đồng Việt – Mường đông đúc, thịnh vượng do Lê Lợi đứng đầu. Với chức danh phụ đạo Khả Lam, Lê Lợi được chính quyền thời Trần – Hồ giao cho cai quản một vùng rộng lớn: kẻ Cham – Khả Lam – Lam Sơn, tên Nôm làng Cham. Đất kẻ Cham hay đạo Khả Lam là nơi phát tích của vua Lê đồng thời cũng là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Sau khi Lê Lợi lên làm vua, đạo Khả Lam được đổi thành hương Lam Sơn (còn gọi là Lam ấp - ấp thang mộc của nhà vua). Năm 1429, Lê Lợi đặt Lam Sơn (khu vực thuộc làng Cham) là Lam Kinh.

Vùng đất Lam Sơn là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía tây xứ Thanh và vùng đồng bằng châu thổ sông Mã. Đất Lam Sơn ở vị thế mà sông Chu như là cái “vạch” của vùng trung chuyển: phía nam sông Chu là cạnh của phía tây của tứ giác châu thổ sông Mã, thuộc các huyện: Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống; Quảng Xương, phía bắc sông Chu là vùng đồi thấp thuộc một phần phía bắc huyện Thọ Xuân, huyện Ngọc Lặc và cao hơn là vùng núi cao thuộc các huyện: Lang Chánh, Bá Thước và một phần huyện Thường Xuân. Vùng đồng bằng trước núi này đất đai phì nhiêu, mầu mỡ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, dân cư đông đúc đã tạo điều kiện để dòng họ Lê lập nghiệp và phát triển, có uy tín và thế lực làm chủ một miền.

Tuy nằm trong tứ giác châu thổ sông Mã nhưng nơi đây vẫn còn nhiều ngọn núi sót, tiêu biểu là núi Chẩu (núi Chủa, chủ sơn). Với dòng họ Lê, vùng núi Chẩu là vùng đất thiêng – quê mẹ của Lê Thái Tổ, còn đối với điện miếu Lam Kinh, núi Chẩu trở thành chủ sơn, tiền án của khu sơn lăng và điện miếu Lam Kinh.

Vùng đồi núi, khe núi, núi cao, rừng sâu phía bắc sông Chu, kéo dài từ rừng lim sau trai Như Án là hệ sinh thái đồi núi, địa hình phức tạp, nhiều nơi hiểm trở thuận lợi cho việc khởi nghĩa tổ chức chống lại sự xâm lược của kẻ thù kể cả khi tiến công và khi phải tạm thời rút lui để bảo tồn lực lượng. Trong hệ thống núi đồi ở đây có những núi đã gắn liền với chuỗi truyền thuyết Lam Sơn, tiểu biểu là núi Dầu và xa hơn về phía tây là núi Chí Linh. Núi Dầu còn gọi là núi Lam Sơn và nơi họ Lê dựng nghiệp lớn và là điểm quy chiếu của hệ thống điện miếu Lam Kinh theo thuật phong thủy. Núi Dầu cũng như núi Chí Linh gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trong giai đoạn mở đầu đầy gian nan thử thách.

Nằm giữa vùng đất Lam Sơn là sông Chu, còn gọi là sông Sũ, sông Lường, sông Lương. Sông Chu và các chi lưu như bàn tay khổng lồ vươn rộng khắp miền Tây xứ Thanh. Hệ thống sông này không chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất của cư dân trên đôi bờ dòng chảy của nó mà đã trở thành dòng sông huyền thoại trong khởi nghĩa Lam Sơn: hạ nguồn con sông là nơi người dân chài “kéo” được thanh kiếm thần dân cho chủ tướng Lê Lợi, thượng nguồn là nơi tướng quân Lam Sơn cùng các nghĩa sĩ “hòa nước sông chén rược ngọt ngào” trong những ngày “nếm mật nằm gai”.

Vùng đất Lam Sơn nằm trong vùng giáp ranh của không gian văn hóa Việt – Mường của xứ Thanh. Quan hệ của Lê Lợi với các đạo, sách trước khởi nghĩa Lam Sơn là mối quan hệ giữa các ông Đạo Mường (Đạo Cham – Lê Lợi, Đạo Mục – Lê Thận và ông Đạo sách Dựng Tú là Lê Lai)…Địa bàn của khởi nghĩa Lam Sơn những năm đầu ở miền núi Thanh Hóa nằm trong địa bàn cư trú của một bộ phận người Thái.

Trong đó căn cứ Chí Linh và các vùng phụ cận là nơi có nhiều người Thái sinh tụ lâu đời. Mối quan hệ đoàn kết, thủy chung giữa các dân tộc người cùng chung mục đích chống xâm lăng đã được phản ánh trong nhiều câu chuyện cảm động về khởi nghĩa Lam Sơn.

Về phương diện văn hóa dân gian, sự giao thoa, ảnh hưởng văn hóa giữa các dân tộc Việt – Mường – Thái ở nơi vùng bán sơn địa của xứ Thanh đã tạo cho vùng đất này những sắc thái khá đặc sắc. Trước khi hình thành các lễ hội, các nghi lễ tôn vinh anh hùng có liên quan đến khỡi nghĩa Lam Sơn vùng đất thuộc huyện Thọ Xuân đã là một vùng bảo lưu nhiều tín ngưỡng cổ, đặc biệt là các lễ hội (đền thờ vua Lê Đại Hành ở Xuân Lập, đền thờ Đức Thánh Trần ở Tây Hồ, đền thờ Vũ Đắc Vương…), nhiều lễ hội ở các chùa, nghè, miếu và các hình thức diễn xướng nhân gian khác phục vụ các hội làng và việc tế lễ ở các đền thờ.

Mội trường địa – văn hóa cùng với truyền thống văn hóa lâu đời của các tộc người trên vùng đất Lam Sơn, mà trung tâm là nơi phát tích của dòng họ Lê và khởi nghĩa Lam Sơn là nền tảng cho việc hình thành và bảo lưu truyền thuyết – nghi lễ Lam Sơn

Nội dung, kết cấu, phương thức lưu truyền truyền thuyết Lam Sơn

Với những hiểu biết hiện nay, có thể nói rằng những sáng tác dân gian về đề tài Lam Sơn là một kho tàng phong phú mà đặc điểm lớn nhất là đã tạo ra một chuỗi truyện này, Lê Lợi đã hiện lên như một đại biểu duy nhất, mang sức mạnh tập hợp mọi tầng lớp, mọi lực lượng nhân dân ở các vùng miền để tổ chức một cuộc kháng chiến toàn dân.

Những truyền thuyết dân gian này còn thể hiện tính thống nhất qua nhiều hiện tượng văn hóa tiêu biểu khác. Lễ hội, phong tục tập quán, trò diễn dân gian, di tích và cảnh sắc thiên nhiên đều thấm đẫm những dấu tích về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, tất cả đã hòa nhập cùng tín ngưỡng, biểu hiện ở phong tục, náu mình trong thần tích, ký thác ở tâm linh, ẩn tàng trong cõi sâu của tâm hồn ở mỗi người dân hay cộng đồng làng xã, mà biểu hiện chính là nhờ sự thờ cúng và các hội làng, hội lễ.

Tất nhiên, theo quy luật lan tỏa của các hiện tượng folklore, những truyền thuyết và phong tục liên quan tới Lam Sơn và vị anh hùng Lê Lợi có thể tìm thấy trên phạm vi rộng hơn ngay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và ở các tỉnh khác. Nơi này hay nơi khác đều có những mô típ chung, viền ánh hào quang của lòng tự hào và niềm tôn vinh Lê Lợi. Nó phản ánh một sự thực lịch sử là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đi vào lòng dân một cách thiết tha sâu lắng. Toàn bộ các truyền thuyết, dấu tích, khung cảnh thiên nhiên về Lam Sơn đều vừa mang tính lịch sử vừa mang tính huyền thoại. Tuy nhiên trong tâm thức của quần chúng nhân dân, nó luôn gắn liền với các nghi lễ, phong tục, hình thành nên một hiện tượng văn hóa đặc sắc với toàn bộ văn hóa lớn lao, huy hoàng, rực rỡ trong lịch sử dân tộc.

Truyền thuyết, di tích, nghi lễ, phong tục sự tích liên quan tới Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bao gồm nhiều lớp, được xâu chuỗi thành các mảng màu để kết nối với nhau tạo thành một chuỗi truyền thuyết với một dáng vóc, một thần thái rất đặc biệt, như là những làn sóng ngầm cuộn xiết đằng sau sự bề bộn của các sự kiện, các chặng đường lịch sử của các cuộc khởi nghĩa, tạo nên những âm hưởng mạnh mẽ trong cảm hứng sáng tạo của nhân gian, một cảm hứng tôn vinh tuyệt đối. Do đó mà truyền thuyết về Lam Sơn có giá trị nhân văn cao cả. Những âm hưởng và cảm xúc đó khó có thể tìm thấy trong một pho niên sử nào mà chỉ sống trong ký ức của nhân dân, luôn tươi mới theo thời gian. Có thể nói rằng, chuỗi truyền thuyết Lam Sơn đã tạo nên một dòng chảy lịch sử ở bề sâu, một dòng lịch sử cao hơn lịch sử đích thực, một ký ức lịch sử được thăng hoa chưng cất đầy “mộng” và “thơ” để hội nhập vào thê giới thần thiêng tạo nên  giá trị vĩnh cửu của hào khí Lam Sơn và sự bất tử của người anh hùng Lê Lợi.

Lớp sớm của hệ thống truyền thuyết này là những truyền thuyết về dòng họ, chủ tướng Lam Sơn, về việc chuẩn bị cho công cuộc khởi nghiệp trên cái noi của cuộc khởi nghĩa và hoạt động của nghĩa quân Lam Sơn.

Cuộc đời của Lê Lợi sau khi lên ngôi Hoàng đế đã được nói đến nhiều trong các cuốn sử biên niên của vương triều Lê, nhưng ông chủ trại Như Áng trước khi khoác áo hoàng bào thuộc về nhân dân. Huyền thoại về người dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn mở đầu từ khi họ Lê đến Lam Sơn dựng nghiệp. Truyền thuyết về lăng Phật Hoàng với thế đất như hình “quả quốc ấn” như một điềm báo “chân mệnh đế vương” của dòng họ Lê. Truyền thuyết về sự ra đời của Lê Lợi là do con hổ đen ở xứ Du Sơn thác sinh. “Con cọp đen ở rừng Lam Sơn” biến mất khi Lê Lợi chào đời. Mô típ này được lựa chọn sử dụng có ý nghĩa như một điềm báo gắn với sự “xuất hiện” của các vị vua, chúa.

Cùng với nhóm truyền thuyết về dòng họ Lê là các truyện về bà vợ của Lê Lợi (Phạm Thị Ngọc Trần) đã tự nguyện làm vật hiến tế, nhảy xuống sông trầm mình để bảo toàn tính mạng cho nghĩa quân Lam Sơn đang bị thủy thần gây sóng gió đòi phải cung tiến người đẹp. Truyện về Thọ Mai công chúa, giàu lòng nhân ái, sẵn sàng cho cấp cho kẻ bần hàn được lập đền thờ ở làng Giao Xá. Truyện Hồng Nương công chúa, có tài cung kiếm đã tham gia trận mạc được thờ ở làng Xuân Phả. Truyện nàng Hoa Nương (ở xã Tây Hồ hiện nay) hứa hẹn mối duyên cầm sắc với Lê Lợi. Hôn lễ chưa được tiến hành thì Hoa Nương đã trở thành người thiên cổ. Trên bước trường chinh, Lê Lợi đã mộng thấy người yêu đến tỏ bày tâm nguyện và xin phù hộ cho cuộc khởi nghĩa thành công. Đất nước sạch bóng quân xâm lược, Lê Thái Tổ về quê Hoa Nương, dùng lễ hoàng hậu để viếng hương hồn người yêu cũ.

Nhóm truyền thuyết về thời điểm chuẩn bị khởi nghĩa Lam Sơn được gắn với những di tích dưới chân núi Lam và sông Lường. ĐIển hình là truyền thuyết về thanh gươm tần do Lê Thận kéo được dưới lòng sông đem dâng chủ tướng Lê Lợi; về “sấm lá” nói chuyên “Lê Lợi vi vương – Lê Lai vi tướng – Nguyễn Trãi vi thần”; về quán rượu cạnh rừng Lim, bên bờ sông Lường, nơi Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn trên đường đi tìm minh chúa đã gặp nhau và cùng dừng chân uống rượu để dò đường tìm vào trại Như Áng; về núi Dầu nơi Trần Nguyên Hãn đã bỏ quên gánh dầu trên đường tìm đến trại Lam Sơn và cũng tại nơi đây mãi mãi ghi nhớ về “Mụ hàng dầu” đêm đêm thắp sáng ngọn đèn chỉ đường cho nghĩa sĩ biết hướng tìm về Lam Sơn tụ nghĩa; về núi Mục, trạm gác tiền tiêu của nghĩa quân… Những truyền thuyết này đã phản ánh những cốt lõi sự thực lịch sử một cách sinh động về khởi nghĩa Lam Sơn trong những ngày đầu chuẩn bị lực lượng.

Chiếm số lượng khá lớn và lan tỏa trong nhiều vùng miền của xứ Thanh là các dấu tích liên quan đến Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn trên những chặng đường chiến đấu đầy gian nguy. Bên cạnh những yếu tố huyền thoại, nhóm truyện này mang đậm chất hiện thực, trong đó nổi tiếng nhất là nỗi cơ cực mà Lê Lợi và nghĩa quân phải chịu, nhất là những tình huống Lê Lợi thua chạy, bị quân giặc truy đuổi. Ta bắt gặp ở đây hàng loạt những câu truyện cảm động về tấm lòng đùm bọc, sự cưu mang che chở của nhân dân. Tính nhân dân của truyền thuyết Lam Sơn là một nét đáng chú ý của thể loại sáng tác nhân gian này. Lê Lợi xuất hiện ở đây dù có nhiều khid được viết bằng cả một đám hào quang thần thoại nhưng vẫn là một hình tượng anh hùng cụ thể, gẫn gũi với nhân dân… Lê Lợi không như một tướng thần linh nào trăm trận trăm thắng. Nhưng trong cái thua của Lê Lợi có rất nhiều cái được, và những cái được chủ yếu nhất, có tác dụng nhất, chính là sự gan góc chịu đựng, thủy chung và tấm lòng bù trì che chở của nhân dân (3).

Một điều đáng chú ý là những tên làng được đặt ra để ghi nhớ về kỷ niệm Lê Lợi cùng nghĩa quân đã có lần vượt qua vùng đất quê hương. Đây là những câu truyện xác thực, mộc mạc giản dị gắn với địa bàn cư trú của cả cộng đồng, trở thành niềm tự hào của cộng đồng làng xã, như làng Chí Cẩn, Tiến Nông, làng Quỳ Chử, làng Năng Cát,…

Nhìn từ giác độ văn hóa tộc người, có thể khám phá ra những tên Việt được bảo lưu ở các vùng cư trú của người Thái, người Mường, như chòm Thiu, chòm Bút, chòm Đỏ, làng Khao…hoặc hiện tượng tiếng Thái, tiếng Mường, tiếng Kinh được đan xen nhắc tới mỗi khi kể các câu truyện có liên quan đến Lê Lợi và các cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên các vùng miền ở xứ Thanh: Thác Ma Ngao (thác Chó cắn), Huổi Láu (Suối rượu)…

Hiện tượng này phản ánh rõ cảm quan tâm lý tộc người trong sáng tạo dân gian, đồng thời cũng phản ánh một yếu tố chung của tâm lý cộng đồng, hướng về người anh hùng dân tộc Lê Lợi. Đây cũng là một điểm làm nên nét độc đáo của chuỗi truyền thuyết về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Truyền thuyết Lam Sơn không chỉ được lưu truyền trong các thế hệ qua lời kể dân gian mà còn bảo lưu qua nhiều phong tục, tín ngưỡng, di tích, lễ hội. Phổ biến là phong tục thờ cùng những người có công, có đóng góp, hy sinh vì đại nghĩa. Bà hàng nước đã cứu Lê Lợi khi chạy giặc ở nhiều nơi; bà già đỡ đẻ bên đồn Đa Căng làm nội ứng cho nghĩa quân hạ thành Đa Căng; bà cụ người Mường giữa rừng Vân Am cứu Lê Lợi khi bị giặc đuổi; cô gái trẻ Hoa Nương báo mộng cho chủ tướng Lam Sơn trên đường đánh giặc…đều được nhân dân thờ phụng trong niềm kính cẩn và trở thành tục lệ ở nhiều nơi. Khó mà thống kê hết những người có danh và vô danh đã giúp đỡ, ủng hộ nghĩa quân Lam Sơn và đã đi vào thần điện của các làng, bản ở xứ Thanh. Đặc biệt, Mụ hàng dầu đã được làm giỗ sau ngày giỗ của Hoàng đế Lê Thái Tổ với nghi thức “quốc kỵ”. Ngày giỗ Trung Túc Vương Lê Lai, Lê Thái Tổ và Mụ hàng dầu (Hăm mốt Lê Lai – hăm hai Lê Lợi – hăm ba giỗ mụ hàng dầu) đã đi vào tâm thức của nhân dân qua nhiều thế hệ.

Tục kiêng săn bắt kỳ đà, không chặt cây gỗ xé phổ biến ở nhiều nơi trên vùng núi xứ Thanh. Cây xé (loại cây thuộc loại thân gỗ, thân to, thường rỗng ruột) và con kỳ đà đã có công cứu Lê Lợi nên được quý trọng. Nhân dân kiêng chặt cây xé, không săn bắt kỳ đà, thậm chí khi gặp kỳ đà chết người ta còn chôn cất cẩn thận.

Tục thờ cây, động vật có liên quan đến tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ từ khi khối Việt – Mường chưa tách biệt. Tàn dư của tín ngưỡng này vẫn còn ở một số nơi. Phong tục kiêng chặt cây xé, săn bắt kỳ đà có thể là lớp văn hóa muộn phủ lên lớp tín ngưỡng cổ, là một nét văn hóa dân gian trong xu hướng lịch sử hóa phong tục.

Cùng mô típ với loại phong tục này là tục kiêng ăn thịt chim cuốc và kiêng gọi tên cuốc với một số dị bản nhiều khi trái ngược nhau. Riêng ở vùng núi xứ Thanh phong tục này có nguồn gốc từ câu chuyện về loại chim cuốc đã giúp quân sĩ Lam Sơn tìm ra nguồn nước trong khi bị bao vây giữa rừng. Theo đó người ta kiêng ăn thịt loài chim cuốc. Không những thế người ta còn tránh gọi các từ “cuốc” như kiểu kêu tên húy. Khi buộc phải nói đến thì người ta phải gọi chệch đi, ví dụ: khi gọi cái cuốc sới đất người ta gọi là cái sáo cỏ.

Câu chuyện cảm động về việc Lê Lợi khao quân sĩ bằng cách đổ rượu xuống suối có hai dị bản ở hai nơi đều thuộc rừng núi phía tây Thanh Hóa. Trên đất Châu Thường, truyền thuyết này gắn với di tích hòn đá khao trên suối. Trong tâm thức dân gian người dân ở đây vẫn tin rằng: hòn đá này, con suối ấy là nơi đã diễn ra việc chủ tướng Lê Lợi đã khao quân, nhưng vì rượu ít nên đành phải hòa nước suối để cùng nhau uống. Còn trên vùng đất dưới chân dãy Pù Rinh, thuộc huyện Lang Chánh, câu chuyện lịch sử đã được huyền thoại hóa này được gắn với một con suối chảy dưới chân ngọn Pù Bàn là Huổi Láu (tiếng Thái là suối rượu) đã trở thành tục lệ dùng nước ở suối này làm “rượu suối” dâng trong lễ kỵ Lê Lợi. Có thể tục này có liên quan đến việc dùng nước trong các nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng cầu mưa hoặc thờ mó nước vốn phổ biến ở vùng người Thái cho đến nay vẫn còn được bảo lưu và đã hòa nhập với câu chuyện lịch sử trở thành một tục lệ được lưu truyền tới nay.

Trên đây là một khía cạnh về vùng truyền thuyết – nghi Lễ Lam Sơn từ góc độ vùng thể loại văn hóa. Với ý nghĩa là một trong những hiện tượng văn hóa mang tính đặc trưng cảu tiểu vùng văn hóa xứ Thanh, vùng truyền thuyết – nghi lễ Lam Sơn đã góp phần tạo nên nét đặc trưng loại hình của hệ thống truyền thuyết Lam Sơn, thể hiện sự thống nhất- đa dạng, độc đáo của văn hóa xứ Thanh, sự thống nhất giữa tầm vóc hào khí Lam Sơn và vẻ đẹp cao cả của tâm hồn nhân dân trong quan điểm thực tiễn của họ về vị anh hùng dân tộc Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn./.

1,2.Ngô Đức Thịnh, văn hóa cùng phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Trẻ, TP.HCM 2004,tr.179,292.

3.Vũ Ngọc Khánh, truyền thuyết và cổ tích Lam Sơn, ty văn hóa Thanh Hóa xb, 1974.

Cập nhật ( 21/10/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online