Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Bình Ngô đại cáo (bản dịch của Ngô Tất Tố)
Bình Ngô đại cáo (bản dịch của Ngô Tất Tố) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/11/2009

 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

* Nguyễn Trãi

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)


Thay trời hành hóa,

Hoàng thượng chiếu rằng:


Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh
Mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Dánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.

 

Giải thích từ ngữ:

Đại cáo: có thể hiểu là tuyên cáo rộng khắp hoặc là bài cáo có quy mô lớn. Bình Ngô: dẹp yên (bình) giặc Ngô, tức giặc Minh. Đời Ngô (thời Tam Quốc), bọn người sang cai trị nước Việt đều tàn ác nên dân Việt từ đó gọi người phương Bắc là người Ngô với ý khinh ghét.
Hành hóa: làm việc cảm hóa dân chúng thành người tốt.
Hoàng thượng: hoàng là những gì thuộc về vua, thượng là trên. Hoàng thượng là từ dùng để gọi nhà vua một cách tôn kính.

Thay trời... truyền rằng: câu này thường có trong các giấy tờ quan trọng của các vua đời Lê.
Nhân nghĩa: vốn là học thuyết đạo đức của Nho giáo trong đó nói về những đạo đức, tình thương của con người với nhau. ở đây tác giả đã tiếp thụ tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo theo hướng lấy lợi ích nhân dân, dân tộc làm gốc. Ngũ thường của Nho giáo (nhân, lễ , nghĩa, trí, tín)
Yên dân: đưa lại cuộc sống yên ổn cho dân.
Điếu phạt: vì thương xót (điếu) dân chúng bị tàn hại mà dùng quân đội trừng phạt (phạt) kẻ gây tội ác.
Trừ bạo: tiêu diệt kẻ bạo tàn (đây là nói giặc Minh xâm lược).
Đại Việt: tên nước Việt Nam từ đời vua Lý Thánh Tông.
Văn hiến: từ dùng chỉ một đất nước có thể chế kỷ cương chính trị tiến bộ, có truyền thống văn minh vật chất và tinh thần tốt đẹp, có sách vở và có người tài giỏi.
Bắc Nam : Bắc chỉ Trung Quốc , Nam chỉ Việt Nam .
Đinh, Lý, Trần: các triều đại đă xây dựng nền độc lập buổi đầu của Việt Nam sau khi thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc. Riêng Triệu, chính là Triệu Đà đă từng cướp nước Âu Lạc mà sách xưa từng lầm là một triều đại của nước ta. ở đây Nguyễn Trăi cũng lầm.
Hán, Đường, Tống, Nguyên: các triều đại của Trung Quốc.
Hào kiệt: người có tài năng hơn người.
Lưu Cung: vua của Nam Hán (Trung Quốc) từng sai con là Hoằng Thao đem quân xâm lược bị Ngô Quyền đánh bại trên sông Bạch Đằng.
Tham công: tham lập công.
Triệu Tiết: tướng nhà Tống đem quân xâm lược Đại Việt bị Lý Thường Kiệt đánh đuổi.
Toa Đô: tướng Nguyên - Mông sang xâm lược Đại Việt bị giết (không phải bị bắt sống) trong trận Hàm Tử.
Ô Mã Nhi, tướng Nguyên Mông xâm lược Đại Việt bị bắt sống, không phải bị giết.
Chính sự phiền hà: việc chính trị có nhiều điều phiền nhiễu, hà khắc.
Cuồng Minh: giặc Minh điên cuồng.
Gian tà: xấu xa, trái lẽ phải.
Cầu vinh: mưu cầu vinh quang bất chính.
Dân đen: tục xưa, người dân không được đội mũ, chỉ để đầu tóc đen mà đi. Do đó có từ dân đen để chỉ dân thường.
Con đỏ: trẻ con mới đẻ ra còn đỏ hỏn, cần săn sóc. Do đó có từ con đỏ để chỉ người dân cần được kẻ làm quan chăn dắt.
Hai mươi năm: tính thời gian quân Minh xâm lược Đại Việt từ 1407 đến 1427. ý cả câu: theo quan niệm xưa, nhân nghĩa của con người được trời đất, vũ trụ chứng kiến, tham gia. Nay giặc Minh tàn hại dân là làm tan cả nhân nghĩa mà cũng nát cả đất trời.
Dòng lưng: buộc dây vào lưng. Giặc Minh bắt dân Việt dòng dây vào lưng để ném xuống biển mò ngọc trai.
Cá mập: giống cá dữ hay ăn thịt người.
Thuồng luồng: một loại rắn biển rất dữ.
Dò, bẫy, cạm, lưới: các dụng cụ dùng bắt chim, thú.
Chim sả: loại chim có bộ lông mầu xanh biếc rất đẹp.
Hươu đen: loại hươu có bộ lông đen rất quý.
Phục dịch: hầu hạ theo lệnh của người khác (giặc Minh).
Canh cửi: nghề dệt vải lụa.
Trúc Nam Sơn: trúc là tre. Ngày xưa khi chưa có giấy, người ta phải ghi chữ trên thanh tre. Tre núi Nam .
Đông Hải: biển Đông.
Lam Sơn: nay thuộc xă Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, quê hương của Lê Lợi và là nơi căn cứ địa đầu tiên của cuộc khởi nghĩa chống Minh do Lê Lợi phát động.
Hoang dã: nơi đồng quê hoang vu.
Nếm mật nằm gai: ăn thì nếm mật đắng, ngủ thì nằm trên gai. ý nói chịu gian khổ để không quên chuyện phục thù.
Sách lược thao: sách binh pháp ngày xưa gồm "tam lược" và "lục thao".
Hưng phế: hưng là dấy lên thịnh vượng. Phế là hư bỏ. Người xưa có quan niệm về hưng phế, về thịnh suy và coi đó như là luật của tự nhiên, hết hưng đến phế, hết phế đến hưng, cứ thế cứ thế... Các triều đại đều đã có hưng, có phế.
Đồ hồi: mưu tính (đồ) để kéo trở lại (hồi), tức nói khôi phục.
Tuấn kiệt: kẻ tài giỏi. Như sao buổi sớm: ý nói hiếm.
Như lá mùa thu: mùa thu lá rụng hết. ý nói hiếm
Việc bôn tẩu: bôn là nhanh, tẩu là chạy. Việc bôn tẩu: việc chạy đây chạy đó để lo công việc cần kíp.
Duy ác: màn che nơi bộ tham mưu của quân đội xưa. Đây có nghĩa là nơi bàn việc quân.
Tiến về đông: khởi nghĩa bắt đầu ở phía tây Thanh Hóa, nên tiến về đông là tiến về đồng bằng, tiến về Đông Kinh (tức Hà Nội ngày nay) để từ đó tiếp tục tiến lên giành thắng lợi cuối cùng (Tiến về đông; Trong nguyên tác là "dục đông" vốn thuộc câu nói của Lưu Bang khi ông này bị Hạng Võ phong cho vào Tây Thục: "Dư diệc dục đông, an năng uất uất cửu cư thứ hồ". (Ta muốn trở về đông, sao chịu uất ức ở măi chốn này).
Dành phía tả: theo điển xưa, để chờ đợi đón người hiền tài đến giúp, người ta đă dành sẵn phía bên trái cỗ xe. ở đây, ý nói chờ người hiền tài cùng tham gia chống giặc.
Linh Sơn: núi Chí Linh thuộc huyện Lang Chánh ở miền núi Thanh Hóa (không phải Chí Linh là một huyện ở Hải Dương). Nguyễn Trãi có bài Phú núi Chí Linh là Chí Linh này.
Khôi Huyện: cũng gọi là Khôi Sách, thuộc miền tây của tỉnh Ninh B́nh.
Mệnh lớn: Sứ mệnh lớn, sứ mệnh cứu nước. Câu này trong nguyên văn có nghĩa là: giương gậy làm cờ, manh lệ bốn phương tụ họp. Manh là người đi cày. Lệ là người đi ở. Nghĩa quân Lam Sơn gồm những người manh lệ đó.
Hoà nước sông: xưa có viên tướng giỏi, được tặng một bình rượu, đă đem đổ xuống sông rồi cùng quân sĩ múc nước sông lên uống. ý nói tướng sĩ cùng một lòng, đồng cam cộng khổ.
Xuất kỳ: ra quân một cách bất ngờ làm cho kẻ địch không lường được.
Mai phục: ẩn núp chờ địch đến để đánh bất ngờ.
Đại nghĩa: nghĩa lớn
Chí nhân: lòng nhân ở độ hết mực. ý cả hai câu: lấy lư tưởng nhân nghĩa để thắng giặc Minh là kẻ hung tàn, cường bạo.
Bồ Đằng: một ngọn núi thuộc huyện Quỳ Châu, Nghệ An.
Trà Lân: một địa điểm thuộc huyện Con Cuông, Nghệ An.
Trúc trẻ, tro bay: cái thế chẻ trúc là cái thế chỉ chẻ một nhát ở đầu là cả cây sẽ toác dần ra. Còn tro bay thì sẽ tung tóe. ý nói sức mạnh chiến thắng của nghĩa quân làm cho quân thù tan tác như tro bay và không thể cưỡng nổi như tre đã bị chẻ.
Sĩ khí: khí thế của binh lính (chứ không phải của kẻ sĩ, của học trò như trong câu thơ của Tú Xương sau này: "Sĩ khí rụt rè gà phải cáo").
Quân thanh: tiếng tăm của quân đội.
Trần Trí, Sơn Thọ: hai tên tướng giặc. Mất vía: sợ hết hồn. Nguyễn Trãi đă từng viết thư và làm lung lay tinh thần hai viên tướng này.
Lý An, Phương Chính: hai tên tướng giặc.
Tây Kinh: Tây Đô ở Thanh Hóa, nơi nhà Hồ đóng đô. (thành Nhà Hồ)
Đông Đô: Thăng Long (Hà Nội).
Ninh Kiều: Một địa điểm thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Tây.
Tụy Động hoặc Tốt Động: một địa điểm khác cũng thuộc huyện Chương Mĩ.
Phúc tâm quân giặc: những tên tay chân được giặc tin như bụng (phúc) như lòng (tâm) của mình.
Mọt gian kẻ thù: kẻ thù gian ngoan sâu mọt.

Cập nhật ( 05/11/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online