Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Một số biểu hiện giao thoa văn hóa (ThS Nguyễn Thị Diệp Mai)
Một số biểu hiện giao thoa văn hóa (ThS Nguyễn Thị Diệp Mai) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/11/2009

MỘT SỐ BIỂU HIỆN GIAO THOA TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN GIỮA BA DÂN TỘC KINH – HOA – KHMER Ở KIÊN GIANG

* ThS Nguyễn Diệp Mai

Sở Du Lịch Kiên Giang

Kiên Giang là vùng đất tụ họp dân tứ xứ, nhưng do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế và điều kiện tự nhiên mà ba tộc người chính: Kinh, Khmer, Hoa sinh sống ở đây tự điều chỉnh, biến đổi phù hợp với sinh hoạt, cách nghĩ của mình. Người Khmer, người Hoa tại Kiên Giang khá đông. Khmer 181.619 người, Hoa 32.197 người. Chính bởi do nhiều thế kỷ cộng cư với nhau trên một địa bàn nên việc đồng hóa về văn hóa là một quá trình phát triển xã hội tự nhiên của các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSL) nói chung và Kiên Giang nói riêng. Sự giao thoa đó thể hiện rất rõ trong nhiều thành tố văn hóa dân gian của ba dân tộc Kinh- Khmer- Hoa ở Kiên Giang.

         1.      Phong tục, tập quan, tín ngưỡng, lễ hội 

Trước tiên, phong tục tập quán là là những lễ thói sinh hoạt mà mỗi dân tộc có sự biểu hiện riêng. Sống cộng cư với nhau, người tộc này thấy sinh hoạt của tộc khác có cái “hay”, “ngồ ngộ” sẽ dần bắt chước theo. Vô hình chung, lâu ngày, cái bắt chước ấy thâm nhập vào phong tục tập quán của họ lúc nào không biết. Riêng trong nghi lễ cưới hỏi, người Kinh và người Hoa “bắt chước” nhau khá nhiều. Để chính thức thành vợ chồng , về nguyên tắc, hai gia đình đàng trai và đàng gái phải tiến hành tất cả 14 lễ, dần về sau rút rọn thành sáu lễ, quen gọi là lục lễ, gồm có: lễ nạp thái (lễ đi chơi), lễ hỏi (lễ vấn danh), lễ xôi vòi (lễ nạp kiết), lễ nạp tệ (lễ nạp sính lễ), lễ thỉnh kỳ (lễ sinh cưới), lễ thân nghinh (lễ rước dâu ). Hiện nay, đám cưới của người Hoa cũng như người Kinh, đơn giản chỉ có lễ đi chơi, lễ hỏi, lễ cưới là chính. Cũng như các tộc người khác, việc chọn lựa người bạn đời cho con cháu rất được người Hoa chú trọng. Song, có lẽ do quá trình cộng cư lâu dài, với hoàn cảnh sống thực tế và sự đồng cảm những khó khăn đã từng trải nên quan niệm “môn đăng hộ đối” không còn quá nặng nề trong cộng đồng người Hoa. Hôn nhân của người Hoa ngày càng có chiều hướng mở rộng , không chỉ có cùng nhóm người Hoa với nhau mà hiện đã có trên 50% số hộ người Hoa có quan hệ hôn nhân với người khác tộc. đàn ông người Hoa thường lấy vợ Kinh, vợ Khmer; đàn ông người Kinh thường lấy vợ Khmer, vợ Hoa; đàn ông Khmer chỉ lấy vợ Khmer và Kinh, rất hiếm lấy vợ Hoa. Một số câu ca dao, hát ru nói đến những cuộc hôn nhân này:

          Ghe bầu trở lái về đông, trở mũi lên đồng

          Con gái mẹ theo chồng bỏ mẹ ai nuôi

          Mẹ già còn có anh trai

           Tôi theo chú Quãng cho xuôi một bề

                                         (người Quãng Đông).

           Ầu ơ….

          Gió đưa ông nội về Tàu,

         Bà nội ở lại xuống bàu bắt cua

         Bắt cua mần mắm cho chua

        Ầu ơ…..

       Gởi cho ông nội khỏi mua tốn tiền

-Anh đứng làm trai nam nhi chi chỉ

Em đứng làm gái chẳng nghĩ chẳng suy

Lấy Tây, lấy Chệt làm chi

So bề nhơn ngãi hò ơ ớ ơ

So bề nhơn ngãi sao bì được với An Nam.

Chu kỳ của con người sinh ra và mất đi, nếu sống lâu người ta còn làm lễ “lục tuần”, lễ “đại thọ”, “cửu thọ”, “bách thọ”… Những lễ nghi có khác nhau đôi chút, nhưng vẫn với nội dung mừng ngày sinh nhật thứ 60, 70, 80, 90, 100 của mỗi con người. Tục lệ này chỉ có ở con người Kinh và người Hoa. Khi chết đi, do ảnh hưởng tục lệ của người Hoa, có một số nơi cứ bảy ngày thì gia đình người chết làm một tuần chay,đến tuần chay thứ bảy (tức 49 ngày) thì cúng tuần chung nhất, kết thúc làm tuần. Mỗi tuần chay điều có thầy tụng kinh siêu độ. Đến một trăm ngày cúng tuần bách nhật, đúng một năm làm giỗ đầu gọi là tiểu tường. Hai năm sau làm lễ đại tường (lễ mãn phục, mãn tang). Từ đó về sau, hằng năm, cứ tới ngày người chết qua đời, trong gia đình làm đám giỗ, tết Thanh minh tổ chức đi tảo mộ rất trọng thể. Chiều cuối năm âm lịch tổ chức “phủi mộ” và cúng giấy tiền vàng bạc, nhang đèn. Trong thời gian chưa mãn tang cha mẹ, người trong gia đình không được mặc áo mới, không bày trò vui, không được làm đám cưới . Nhiều gia đình phải cưới chạy tang, rước dâu về mới chôn người chết.

Nói chung, phong tục cưới hỏi, tang lễ của người Hoa ở Kiên Giang chỉ còn giữ đôi nét đặc biệt trong một số chi tiết hành lễ, còn hầu hết đã được giao thoa, hòa quyện cùng phong tục người Kinh bản xứ, kể cả nghi thức trong những ngày  tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh,Đoan ngọ, Trung thu…. Người Khmer vẫn giữ tục cưới hỏi, tang ma theo cổ truyền của mình nhưng vẫn tham dự dự lễ lạc ở nhà hàng xóm khác tộc để tỏ tình thân thiện. Các lễ tết của người Kinh, người Hoa, họ cũng đi chơi cho vui chứ không xem là ngày lễ tết của mình. Ngoài ra, người Hoa ở Kiên Giang còn có một sồ lễ hội mang tính truyền thống khác: vía bà Thiên Hậu, vía Quan Công… cũng có đông người Kinh đến tham dự.

Một số người Hoa còn thờ Nguyễn Trung Trực ở một bàn thờ riêng, không thờ chung ở bàn thờ gia tiên. Trong tục lệ thờ cúng, người Kinh, ngoài việc thờ ông, bà, tổ tiên, còn thờ thần Tài, thần Thổ địa, thờ bà Thiên Hậu, Quan Công, Tiền Hiền (Mạc Cửu) như người Hoa. Người Kinh ví von:

Bốn ông Chệt một trang đầy

Châu Xương râu rậm cầm cây mác dài

Quan Bình quảy bị trên vai

Quan Công ăn ớt mặt mày đỏ lơ.

Tục thờ bà Thủy Long thần nữ và ông Nam Hải, thờ Bà- Cậu, bà Thiên Hậu là những vị thần chung của ngư dân người Kinh, Hoa. Trên đất liền ở nông thôn Kiên Giang hầu như nơi nào cũng có thờ bà Chúa Xứ ( Chúa Xứ nương nương) hoặc bà Cố (Thượng động Cố Hỉ) là vị thần nữ cai quản một vùng, có nhiệm vụ phù hộ những người hiền lương mạnh giỏi, làm ăn khấm khá và cũng không bỏ qua những người ngang ngạnh, họ sẽ bị phạt quở đau yếu, xui rủi. Miếu Bà được dựng ở các ngã ba, ngã tư kinh rạch, dưới tán cây cổ thụ rậm. Tục thờ ông thần Nông bằng chiếc ghế nhổ mạ của người Kinh được người Khmer thờ chung. Ông Tà, ông Địa (thổ thần), ông Bổn thường được ghép chung khi thờ cúng hoặc khấn vái.

-Ông Tà ngồi dựa gốc vuông

Vợ con không có nhong nhong một mình.

-Bà Cố xẹt đỏ cây da

Để tìm ông Cố bỏ nhà chơi hoang.

-Thương nhau hãy thũng thẳng chờ

Đừng lăng xăng như chú Chệt phất cờ tống ôn.

Tại Kiên Giang, một số trò diễn trong hội lễ của mỗi dân tộc người cũng được người tộc khác tham dự và “lấy làm của mình”. Người Hoa, Khmer hằng năm tham dự lễ giỗ cúng đình Nguyễn Trung Trực của người Kinh rất đông. Người Kinh, Hoa dự hội đua ghe gho của người Khmer trên sông Cái Lớn (Gò Quao). Người Kinh “lấy” tục thả đèn gió (đèn trời), thả đèn nước( thả đèn trên sông) cùa người Hoa vào một vài lễ của mình.

Đối với lễ hội về nghề nghiệp ba tộc người, nếu ai đã theo học nghề nào thì đều có chung ngày giỗ tổ của nghề đó, không phân biệt là ai. Nghề nông có lễ thượng điền và hạ điền. Lễ hạ điền tổ chức từ ngày rằm tháng Giêng đến 21 tháng Giêng âm lịch. Nghề thợ mộc có lễ cúng tổ vào ngày 13 tháng 6 và ngày 20 tháng Chạp. Nghề thợ rèn có lễ cúng tổ vào ngày 24 tháng 8 âm lịch. Nghề thợ may có lễ cúng tổ vào ngày 21 tháng Chạp. nghề thợ bạc có lễ cúng tổ trong ba ngày từ mồng 6 đến mồng 8 tháng 2 âm lịch.

2.ngôn ngữ, tri thức dân gian về ăn- ở- mặc

Về ngôn ngữ, sự vay mượn thể hiện rất rõ ở người Khmer. Họ thường dùng chung một số âm với người Kinh, Hoa vì họ đã chung sống lâu đời với nhau, chứ không phải chính thống như người campuchia ở Phnôm Pênh. Thí dụ như người Khmer nói: sam sấp là 30, cau sấp là 90 ( vốn là cẩu xập, xám xập của Hoa); mung là mùng, tu là tủ ( của tiếng Kinh)… trong ngôn ngữ nói, người Khmer ở Kiên Giang thường dịch thẳng ra tiếng Khmer, ví dụ như sau:

-Nước đá: thay vì nói tức-cót ( nước đông) lại nói là tức thmo (thmo là đá núi)

-Dầu lửa: thay vì nói Pren-các lại nói pren phlơn ( phlơn là lửa cháy)…

Người Hoa hay dùng hai tên gọi theo âm Hoa và tên Việt. Ví dụ: tên tiếng Hoa là Mũi- tên tiếng Việt là Hoa, Chéo- Kiều… Người Hoa thường dùng thẳng danh từ riêng của người Kinh trong khi nói chuyện bằng tiếng Hoa. Một số người Kinh dùng tên gọi một số vật như người Hoa: xá bấu (củ cải muối xắt mỏng), xà bỉnh (thịt nạc ướp phơi khô), tùa xại ( một loại cải để làm dưa, hủ tíu…).

Trong ăn uống, do lịch sử hình thành của dân tộc Nam Bộ nói chung, Kiên Giang nói riêng- là một vùng đa dân tộc nên kỹ thuật nấu nướng có phần đan xen theo các kiểu ăn Kinh, Khmer, Hoa. Người Kiên Giang khai thác triệt để sản phẩm thiên nhiên của mình rồi họ “ Việt hóa” kỹ thuật chế biến của các dân tộc khác cho phù hợp để làm phong phú thêm bữa ăn của mình. Người Kinh có thể ăn mắm bò- hốc, canh dạo mắm của người Khmer, thịt kho rệu, hủ tiếu của người Hoa. Người Hoa thíc ăn canh chua của người Kinh. Người Khmer ít phân biệt món ăn và cách chế biến.

Trong việc ở, về vật liệu thì điều dùng thứ sẵn có để xây cất như gỗ, đá, đất, lá dừa nước, đưng, tranh… Người Hoa, người Khmer vẫn cất nhà mái chái như người Kinh. Người Kinh bắt chước cất nhà sàng như người Khmer ở những vùng lầy chũng.

Ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sống trên đất Kiên Giang, hiện nay gần như đã giao thoa nhau về kiểu nhà ở chỉ cách bài trí trong nhà còn khác đôi chút. Người kinh bài trí không gian mở, thích thoáng mát, gian thờ là trung tâm. Người Hoa bài trí không gian đóng, thích kín đáo, phòng ốc hơi tối và thấp, đặc biệt là phòng quay cửa ra hành lang. Người Khmer không có không gian thờ vì thờ ông bà, cha mẹ hay thần, Phật đều gửi ở chùa. Nhà sàn hoặc nhà cao cẳng của người Khmer gồm phần trên là nhà ở, phần dưới là nhà bếp, nơi cất xe bò, cộ trâu, ghe lườn, xuồng, nông ngư cụ, chuồng trại chăn nuôi. Loại nhà trệt của người Khmer thì không đắp nền cao, nền nhà bằng phẳng với mặt sân nên về mùa mưa rất ẩm thấp.

Do đặc trưng văn hóa của từng dân tộc nên kiến trúc nhà ở, tín ngưỡng tôn giáo cũng chịu ảnh hưởng rất lớn. Tuy vậy, do lối sống cộng đồng lâu đời nên phong kiến trúc thường gặp sự pha tạp, ví dụ như chùa của người Khmer đôi chỗ trang trí ô van, chạm trổ theo phong cách người Kinh, hay nhà ở của người Hoa đôi nơi bắt chước theo lối nhà người Kinh: mở thêm cửa sổ, xây thêm hàng hiên. Có nhiều chùa người Hoa có kiến trúc mang nét văn hóa Trung Hoa trên đất Kiên Giang: chùa Bà Thiên Hậu, chùa Minh Đức (Rạch Gía), chùa Bắc Đế, chùa Quan Đế… nhưng do có bàn tay của thợ người Kinh nên kết cấu vì kèo nhiều nơi mang kiểu: giá chiêng chồng rườm con nhị, vì kèo Huế biến thể, mái chồng diên. Trong các họa tiết hoa văn trạm lộng có những họa tiết người Kinh hay dùng: hoa cúc, vân sóng tròn mũi nhọn, trâu, bò, thuồng luồng. Ngược lại, một số đình chùa của người Kinh như Tam Bảo (Rạch Gía), chùa Minh Long, đình Vĩnh Hòa Đông, đình Vĩnh Huề lại có họa tiết cuốn thư, con dơi, chữ Phúc của người Hoa. Đình thờ Thủy Long Thánh Mẫu (Duông Đông – Phú Quốc) có bàn thờ ông Tà. Chùa của người Krmer, về mặt kiến trúc và trang trí thì không hề có sự pha tạp nào. Tuy nhiên, vẫn có thể thấy sự có mặt của người Kinh ở đây như gửi tro cốt của người thân, cúng viếng chùa, đặc biệt ở chùa Sóc Xoài (Hòn Đất) có một quả khuông loại trung của người Kinh phụng cúng có niên đại trên 100 năm. Chùa Quan Đế của người Hoa ở Rạch Gía  được xây dựng trên nền chùa Gía Đà của người Krmer, hiện nay dấu tích còn giữ lại là tháp trên cổng chùa. Thờ cúng ở đình, chùa, người Kinh và người Hoa có thờ những vị thần của nhau: Quan Công, Thiên Hậu, bà Chúa Sứ, thần Nông, Phục Hy, Tiền Hiển, Hậu Hiền.

Về việc mặc, trước hết phải nói  tới bộ bà ba: áo có sáu nút, hai túi ở phần dưới của hai vạt trước, quần ngã tư hoặc lá nem và chiếc khăn rằn là trang phục phổ biến của cả ba dân tộc. Người Hoa phần nhiều ăn mặc cũng giống như người Kinh. Riêng bộ bà ba thì vẫn chung kiểu quần ngã tư hoặc lá nem nhưng phụ nữ mặc áo vạt hò, cổ kín, đàn ông mặc áo xá-xẩu cửa giữa, đều đơm nút thắt bằng vải. Phần nhiều, người Khmer ăn mặc theo người Kinh, nhất là bộ bà ba khăn rằn. Chỉ khi lễ tết họ lại mặc đồ cổ truyền của dân tộc: sam-pót và sà-rong.

3.Văn học dân gian

Truyện kể ở dân gian có đầy đủ các thể loại: truyện đời xưa, truyền thuyết, giai thoại, truyện cười, ngụ ngôn, tiếu lâm, nói xâm… nhưng số lượng của từng loại cũng như thể loại của từng dân tộc thì không giống nhau. Phần lớn những truyện được lưu truyền ở Kiên Giang là những truyện nằm trong kho tàng cổ tích của người Kinh, Khmer, Hoa lấy từ tích các truyện: Thoại Khanh – Châu Tuấn, Phạm Công – Cúc Hoa, Chàng Nhái – Kiển Tiên, Nàng Út ống tre, Lâm Sanh - Xuân Nương, Hội rắn mùng Năm, Công chúa đội đèn…Chuáng được phổ biến tương đối rộng, bằng con đường truyền khẩu nên dần dần người ta không còn phân biệt được nguồn gốc của truyện. Truyện Ông già kén rể, Anh em chia của, Cục ngọc rắn,  Con chó biết nói, Anh Tí khôn ngoan là những truyện có nhân vật người Kinh, người Khmer cùng trong một truyện. Trong Anh Tí khôn ngoan có mặt cả ba vị thần của ba tộc người: bà Chúa Xứ, ông Tà, ông Bổn. Sự hòa quyền này biểu hiện rõ ràng hơn ở loại truyện truyền thuyết, tiêu biểu là Thạch Sanh – Lý Thông (Thạch Sanh – “người ở núi”, họ Thạch – tượng trưng cho người Khmer; Lý Thông – “người buôn bán” – họ Lý tượng trưng cho người Hoa; người Kinh vua, công chúa Huỳnh Nga, Thái tử Thủy Tề…). Mỗi nhân vật thể hiện rỏ tính cách ứng xử, hành động mang đậm “đặc tính” riêng. Ở Truyền thuyết dinh Cậu, sự có mặt của Sấu tinh là sự hòa trôn giữa tín ngưỡng của người Kinh và người khmer. Hình tượng cá sấu có rất nhiều trong văn học, dân ca của người khmer. Thể loại truyện tiếu lâm của người Kinh (có truyện vui, truyện nói xâm cũng thường có mặt một số nhân vật người Khmer, người Hoa.

Về ca dao, tục ngữ, thành ngữ hầu như chỉ có ở người Kinh. Người Khmer có truyện thơ dùng để hát Riêng-châm, có thành ngữ, tục ngữ nhưng ít khi dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Còn người Hoa hầu như rất hiếm, chỉ phổ biến ở liễn đối. Có một loại vè của người Kinh gieo vần theo một thể thơ của người Khmer, lời nói vòng vo, từng cặp thơ bị gãy gấp vần điệu, mang tính triết lý, vịnh vào củ khoai, con sáo hay cây cày…để đưa đẩy ý tứ, nội dung không bị lạc hướng. Ca dao ở Kiên Giang được sử dụng rộng rãi trong các hình thức diễn xướng: hò, hát ru. Hát đối đáp, nói thơ, lý…

4.Nghệ thuật biểu diễn

Nghệ thuật biểu diễn được đề cập trong phần này bao gồm những hình thức diễn xướng dân gian đã hình thành và phát triển trên đất Kiên Giang của người Kinh, Khmer, Hoa bao gồm: nhạc cụ, trò diễn, dân ca và sân khấu.

Về nhạc cụ, Dây truyền âm nhạc được gọi là “sáo diều” do người Khmer tạo ra, đến nay vẫn còn được sử dụng. Người Kinh và người Hoa ứng dụng vào trò chơi thả diều. tuy mỗi tộc người có nhạc cụ đặc trưng riêng nhưng nhạc cụ đó vẫn được người thuộc tộc khác trong dàn nhạc của mình. Ống sáo bằng trúc (người Khmer gọi là khlôi), cây đàn cò làm bằng ống tre, dây sắt (gọi là trô-chxê), cây đàn kìm (chà-pây), cây đàn tranh (giống loại đàn tam thập lục trong dàn nhạc Plenh6-xe), chập chã, phèn la, trống vẫn là những nhạc cụ thường dùng của người Kinh và người Hoa.

Ở Kiên Giang, nghệ thuật múa thường nằm trong tiết mục của các trò dian64 nghi lễ, phong tục, rõ nhất là ở hát bóng rỗi, hát bội và lễ nghinh thần, động quan…hát bóng rỗi là hình thức diễn xướng tổng hợp bao gồm ca lý, ca xang, ca mường, nói vè, múa (dâng bông, dâng mâm), nhạc bòng (đàn cò, kìm, trống cái, trống cơm), trò diễn (địa nàng)… và có nơi còn rước cả đào kép hát bội đến “hát chặp” (trích đoạn các vở hát bội) thay cho các trò diễn. Đây là hình thức nghi lễ thường diễn ra trong dịp cúng miếu hằng năm và “cúng bà” trong các gia đình có tục thờ nữ thần (bà Cửu Thiên, bà Chúa Ngọc). Về tiết mục, thường gồm có các bài nghi lễ (thơ lục bát, song thất lục bát) có đàn trống đệm theo. Người biểu diễn tiết mục dâng bông, dâng mân vừa hát vừa múa. Đây là hình thức sân khấu mang đậm tính hòa đồng của ba dân tộc. khi có hát bóng rỗi, dân trong vùng bất kể là ai đều thích đến xem và xem rất đông. Ca kịch tổng hợp Dù-kê (hoặc Lò-khon) của người Khmer dành cho sân khấu biểu diễn có quy mô và đặc trưng khác nhau, thường lấy tích tuồng từ truyện cổ của người Kinh như Thạch Sanh – Lý Thông. Tấm Cám, Nàng Út ống tre.

Trong dân ca của người Kinh và người Khmer rất dễ tìm ra được cái “hòa hợp”. Riêng dân ca của người Hoa, đa phần vẫn giữ bản gốc nên hầu như không có “giao lưu” về mặt bài bản, giai điệu hay chủ đề với hai tộc người kia. Do điều kiện tự nhiên có đầy đủ núi, sông, biển, đồng ruộng…nhiều điệu hò đua ghe, bơi xuồng,, nhiều bài hát ca ngợi lao động nhiều ngành nghề xuất hiện trong dân ca của người Kinh và người Khmer ở Kiên Giang và đề tài lao động đồng ruộng và sông nước là đề tài phổ biến nhất. Dân ca người Kinh và người Khmer có mấy thể loại giống nhau: hát đưa em (ru võng), hát huê tình (Chriên-che-chong), hát đồng dao, hát đối đap (Àdây, Chriên-bóp-om-túp, Brop-cây). Tiết tấu của dân ca người Kinh và người Khmer có một số nét giống nhau. Hát đối đáp, đồng dao có nhịp điệu cũng dồn dập, tiết tấu ngắn gọn, âm điệu vui vẻ. Hát đưa em có giai điệu êm đềm, tiết tấu khoai thai. Hát huê tình không có giai điệu đằm thắm, đôi khi có những quãng nhảy lớn để tạo cao trào tình cảm, tiết tấu thường ung dung, lời ca thì kín đáo, ý nhị. Hiện nay, ở Kiên Giang, những buổi biểu diễn Dù-kê vẫn có phần lời hát tiếng Kinh. Hề Dù-kê phải biết nói, hát tiếng Kinh nếu biết hát Hồ Quảng cáng tốt.

Qua những biểu hiện của sự giao thoa văn hóa dân gian giữa ba tộc người Kinh – Khmer – Hoa ở Kiên Giang, chúng tôi tạm rút ra vài nhận định sau:

-ba tộc người chính cộng cư lâu đời ở Kiên Giang có xu hướng hòa hợp về văn hóa tinh thần cũng như vật chất.

-Xu hướng hòa hợp văn hóa của ba tộc người chính ở Kiên Giang theo chiều hướng “hòa đồng”. “bắt chước”, biến đổi về chi tiết, không biến đổi nội dung cốt lõi”.

-Hòa hợp để cùng có cuộc sống tốt hơn, tiết nhận tự nguyện, không mâu thuẫn dân tộc trong quá trình tiếp nhận, hầu như không có khái niệm phân biệt “cái gốc” này là của mình trong biểu hiện sinh hoạt hằng ngày của cả ba tộc người./.

 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online