Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Mộc thư Việt Nam (Hà Long)
Mộc thư Việt Nam (Hà Long) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
05/11/2009

MỘC THƯ VIỆT NAM

* Hà Long

Mộc thư đóng vay trò chính yếu trong việc tạo dựng nên diện mạo kho tàng cổ thư Việt -  phần đông và quan trọng nhất trong kho tàng văn hóa cổ - trung đại Việt Nam. Lịch sử bi hùng Đại Việt cũng buộc mộc thư Việt Nam gánh chịu nhữngnguy cơ “tuyệt diệt” không kém thảm họa “chôn sống hoc trò, đốt sách” thời nhà Tần. Đầu thế kỷ XV, Đại Việt rơi vào ách đô hộ nhà Minh Thành Tổ đã truyền chỉ cho đại tướng Mộc Thạnh thi hành chính sách hủy diệt “đốt hết”, “vét hết” văn hóa Việt Nam có những “khoảng đen tronh61” không sao có thể bù đắp được.

          Về mặt khách quan, mộc thư chưa thật sự phát triển ở những thời kì đầu dựng nước của quốc gia Đại Việt tự chủ…May thay, nửa sau thế kỷ XX, nhà văn hóa uyên bác Trần Văn Giáp để lại được cho đời một công trình có ý nghĩa to lớn khi ông đã tổng kết một cách khoa học và đầy đủ tổng tập 3 cuốn sách chỉ dẫn các công trình Hán Nôm của Việt Nam bao gồm 76 bộ sách đời Lê, Lê triều tứ khố thư mục gồm: Hiến chương bộ, Kinh sử 13 bộ, thư văn 29 bộ, truyện ký 28 bộ, tập loại 6 bộ (trong đó có 26 bộ sử) Hoàn Nguyễn Tứ khố thư mục ghi tên 153 bộ sách viết từ đầu triều Nguyễn về sau chép thep địa danh: Thần kinh (Huế) 20 bộ, Bắc kỳ 70 bộ Trung kỳ 42 bộ Nam kỳ 21 bộ và các nữ sĩ 6 bộ đầu sách hiện còn lưu giữ được. Tuy nhiên con số văn bản hiện hữu lại ít hơn rất nhiều so với ko tàn thư mục. Và thật đáng buồn, ngày nay công nghệ chế tác mộc bản đã thất truyên ở Việt Nam khiến cho khả năng phục hồi mộc thư cổ gần như vô vọng.

Mộc thư Việt Nam chia làm hai dòng: mộc kinh thư và mộc văn thư. Mộc kinh thư tồn tại rất sớm ở các trung tâm Phật giáo Đại Việt xưa vốn và những trung tâm ấn loát kinh Phật như chùa Búp Tháp, Chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Liên Phái, chùa Phổ Minh…Kho tàng mộc kinh thư có giá tị được bảo quản tốt nhất cho tới ngày nay phải kể đến thư khố tại chùa Vĩnh Nghiêm – Bắc Giang. Kho mộc thư đồ sộ này hiện lưu giữ 34 đầu sách với gần 3.000 bản van khắc. Mỗi bản ván khắc hai mặc gồm 4 trang sách ngược (âm bản) khắc khoảng 2.000 chữ Hán hoặc Nôm. Kho mộc thư này được đánh giá là quý giá và nguyên vẹn nhất còn lại với những kỷ lục quốc gia đã được ghi nhận: số lượng quán sách nhiều nhất, có niên đại xưa nhất, chữ khắc chuẩn và đẹp nhất. Mộc thư sớm nhất ở đây có niên đại từ thế kỷ XIV chiều đại nhà Trần song chủ yếu là mộc thư thế kỷ XVII – XVIII và phần lớn là kinh luật nhà Phật, lịch sử hình thành và phát triển trường phái Trúc Lâm. Một số ít khác có nội dung y thư giới thiệu nghề y cùng cách điều trị chứng nan y ở nước ta.

Mộc văn thư gần như đã biến mất sau chuỗi cơn binh lửa liên tiếp suốt từ giữa thế kỷ XVIII, XIX đến tận 1975, của thế kỷ XX. Ông tổ của nghề chế mộc văn thư được người đời tôn vinh cho Lương Nhữ Học vị đại quan nhà Hậu Lê. Ông đã học hỏi nghề khắc mộc thư trong chuyến đi sứ để về truyền bá cho dân chúng vào đầu thế kỷ XVI. Thực sự mộc văn thư chỉ phát triển thịnh hành thời Lê Trịnh (1592 – 1786), đầu Nguyễn và bước vào suy thoái dần từ giữa thế kỷ XIX rồi mất hẳn khoảng đầu thế kỷ XX. Một trong những nguyên nhân khiến mộc thư Việt Nam chậm phát triển trước thế kỷ XVII bới công nghệ chế tạo giấy in chưa phổ biến mạnh mẽ ở Việt Nam. Bộ mộc thư quy mô nhất có thể còn biết tới ngày nay chính là mộc bản tàng thư của bộ Đại Việt sử ký toàn thư – bản Nội các văn bản ấn loát vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) do chúa Trịnh Căn chủ trương. Phường thợ Hồng Lục và Liễu Ngạn được giao trọng trách chế khắc bộ mộc bản đồ sộ này. Khởi công ngày 13-12-1698. Bản gốc của bộ sử quý này được lưu giữ tại thư viện cố giáo sư Nguyễn Văn Huyên.

Sang thế kỷ XVIII mộc thư Việt nở rộ với sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm tiểu thuyết, thi ca Hán Nôm nổi danh in đậm dấu ấn của một thời kỳ văn chương thịnh đạt. Hàng loạt chước tác kinh điển giá trị như: Kiến văn lục, Lê triều hội điển, Lịch triều tạp kỷ, Phủ biên tạp lục, Trung San Lam Sơn thục lục, Lịch cổ thời Lê – Trịnh (Bách Trúng Kinh), Đinh khiết Đại Việt, Lịch triều Đăng khoa lục của quốc sư Nguyễn Hoãn, Lịch triều thi sao (Hành tham tụng Bùi Huy Bích), Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo (của Phan Huy Ôn), Lịch triều sách lược (Trần Quang Hiến), Nam Chưởng Kỷ lược (Bảng nhãn Phạm Quang Trạch), Hậu kỷ sự tên biên, một cuốn mộc binh thư hiếm hoi thời Lê Trịnh của Lương Huy Bích… Giai đoạn này, mộc thư có lai lịch khá rõ ràng, chủ đề phong phú được viết bởi cây bút tài danh tiêu biểu cho giới trí sĩ nho học đương thời.

Thời kỳ này việc tư nhân cũng khuê khắc mộc thư để xuất bản còn ghi lại trong sự việc năm 1781 Lê Qúy Thuần con Lê Qúy Đôn định in cuốn Âm chất văn chú của bố. Văn hóa vật thể mộc văn thư còn lại rất ít ỏi, văn bản trước thế kỷ XVII khá hiếm hoi, hầu như chỉ còn từ niên đại thế kỷ XVIII – XIX. Như một “quy luật tồn vong”, may mắn thay hơn 400 mộc thư còn được bảo lưu nguyên vẹn tại Phúc Giang thư viện của dòng họ Nguyễn Huy ở thôn Trường Lưu (xã Trường Lộc) Can Lộc, Hà Tĩnh. Người khởi dựng Phúc Giang thư đường là quan Thượng thư Bộ hộ triều Lê – Trịnh Nguyễn Huy Oánh (1713 – 1789). Khi ông trí sĩ về quê dạy học, ông đã khai sinh Phúc Giang thư đường. Cụ đỗ tiến sĩ đệ nhất giáp năm Cảnh Hưng thứ 9. Thưở vàng son, nơi đây từng có tới hàng vạn đầu sách và hàng ngàn mộc bản tàng thư. Người đương thời xếp Phúc Giang thư đường là một trong những thư đường lớn nhất Đại Việt và Khu vực Đông Nam Á. Năm 1740, chúa Trịnh Giang – ông tổ sách giáo khoa Việt ban lệnh chỉ cấp nhập sách Tứ thư ngũ kinh từ Trung Quốc, mở đầu cho thời kỳ ra đời sách giáo khoa Đại Việt. Nhà nước khuyến khích cho khắc mộc bản in sách Tứ thư ngũ kinh trong nước và phát hành bán cho học trò. Đó chính là cái mốc thời diểm mà mộc thư nở rộ trên khắp lãnh thổ Đại Việt. Chính lúc này cụ Oánh đã bỏ tiền lập xưởng tiền chế mộc bản ngay tại Phúc Giang thư đường. Nguyễn Huy Tự (1743-1790) nối gót cha sưu tập sách, gây dựng một kho mộc thư phong phú về mọi mặt: Binh pháp – Nam Bắc sử, bách gia chư tử, Phật giáo, Địa lý, Tứ thư ngũ kinh…không gì không có. Trước 1945, nơi đây vẫn còn hơn 1.000 bản mộc thư nhưng trong buổi loạn lạc “vàng thau lẫn lộn” một số bị dân làng chẻ làm củi đun, sưởi ấm những ngày đông giá. Các số sách giấy cũng đồng số phận hẩm hiu. Một số sách quý may mắn, “thoát tử” nhờ được cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn và cố giáo sư Đào Duy Anh mượn ra Hà Nội đọc. Số sách quý và “cao số” ấy nay là phần lưu giữ chính trong Thư viện Hán Nôm quốc gia. Trong kho mộc thư ấy rất nhiều sách do chính cụ Nguyễn Huy Oánh viết. Cụ Nguyễn Huy từng là tiến sĩ đặc cách của triều đình cũng để lại dấu ấn qua tác phẩm Hoa tiên chữ Nôm nổi tiếng được rất nhiều người trân trọng. Mộc thư trong Phúc Giang thư đường đều có tuổi ngót 200 năm, song chất lượng còn rất tốt, khi những con chữ li ty, mong manh sắc nét tinh xảo như thách thức với thời gian và các cuộc “bể dâu” – Thật là một báu vật thời nay!

Một kho sách in từ mộc bản khác còn tồn tại với hơn 600 đầu sách của gia đình ông Lê Mai Bửu ở xã Hoằng Trạch, Hoằng Hóa Thanh Hóa. Hầu hết sách thuộc thế kỷ XIX, lác đác có cuốn có niên đại sớm hơn khoảng thế kỷ XVI với đủ chủ đề: văn, sử, y, lý, số…Đó cũng chính là một phần sót lại của kho tàng mộc thư Việt Nam rất đáng trân trọng. Nói đến mộc thư, không thể không nhắc tới kho mộc bản quý hiếm tranh dân gian Đông Hồ. Ra đời khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, các nghệ nhân Đông Hồ còn lưu giữ được bản khắc cổ gia truyền có tuổi đời 200 – 300 năm vô cùng quý giá hàm chứa sâu sắc bản asc81 Việt không thể phai nhòa. Một đám cưới chuột độc đáo, một cảnh đánh ghen rất sống động đời thường, một bầy lợn ỉ của cuộc sống  nông gia sung túc được bảo tồn nguyên vẹn từ những mộc bản vô tri vô giác…

Sang đầu triều Nguyễn nhiều bộ mộc thư đã được khắc mộc bản ấn hành như D(ại Nam thưc lục; Khâm định Việt sử thông giám cương mục; Đại Nam hội điển sử lệ…Kho mộc thư đồ sồ triều Nguyễn là di sản vô giá của tiền nhân để lại cho chúng ta. Được khởi sự từ vua Minh Mạng, vào năm Minh Mạng thứ nhất (1920) Quốc sử quán được dựng ở phường Phú Văn trong kinh thành vò kho mộc thư bắt đầu được lưu trữ tại đây. Năm Tự Đức thứ 2 (1849), triều đình cho dựng Tàng bản đường lưu trữ mộc bản ngay phía sau nhà sử quán. Kho mộc bản đồ sộ này với hơn 152 đầu sách có tổng số mộc bản với trên 30.000 ván in. Chúng được sắp xếp theo 9 chủ đề: Lịch sử, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa – giáo dục, tôn giáo, văn tự…Năm 1960, Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã cho di chuyển toàn bộ mộc thư quý giá này về đất “Hoàng triều cương thổ” Đà Lạt và Sài Gòn nhằm bảo vệ tốt vốn di sản vật thể khỏi bị hủy hoại bởi thời tiết khắc nghiệt, lũ lụt thường xuyên ở Huế.

Sau khi Đại Nam rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, kỹ thuật in ấn phương Tây xâm nhập, lấn át và nghề khắc in mộc thư đã cáo chung ở những năm tiền bán thế kỷ XX./...

Cập nhật ( 05/11/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online