Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Hành trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại (PGSTS. Nguyễn Ngọc Điệp)
Hành trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại (PGSTS. Nguyễn Ngọc Điệp) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
04/04/2010

HÀNH TRÌNH ĐỔI MỚI THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

* PGSTS. Nguyễn Ngọc Điệp

Phó Viện trưởng Viện Văn học

1. Đã trở thành quy luật, phát triển tồn tại và phát triển, văn học luôn luôn phải đổi mới. Tuy nhiên, sự đổi mới trong lĩnh vực nghệ thuật không chỉ dừng lại ở chuyện hình thức kỹ thuật thuần túy mà hình thức ấy phải gắn với chiều sâu suy cảm của chủ thể sáng tạo về thế giới và về chính bản thân nghệ thuật. Khi nói đến những ám ảnh nghệ thuật cũng chính là nói đến những ám ảnh của suy tư, của tư tưởng. Ngay cả những nhà Hình thức Nga dù nhấn mạnh “nghệ thuật như một thủ pháp” thì rốt cục họ vẫn thừa nhận bên trong sự “lạ hóa” của nghệ thuật thực chất là một khám phá về thế giới của nhà thơ.

          Như vậy tự trong bản chất, những đổi mới thực thụ trong lĩnh vực nghệ thuật bao giờ cung gắn liền với sự đổi mới về hình tư duy (para digm). Khi mà quan niệm về thế giới và quan niệm về giá trị thay đổi thì tất yếu sẽ có những thay đổi quan trọng về tư duy và cấu trúc của nghệ thuật.  Nói nhà thơ chỉ quan tâm đến cảm súc mà không  quan tâm đến hình thức, rằng hình thức “tự đến” là không chú ý đúng mức những sáng tạo về ngôn ngữ, cấu tứ, bút pháp, giọng điệu, cách thiết tạo văn bản nghệ thuật của nhà thơ. Nhưng nếu chỉ nhấn mạnh hình thức mà không quan tâm đến chiều sâu tư tưởng nghệ thuật của nghệ sĩ thì sẽ tước bỏ tính nhân văn và chiều sâu triết mỹ của nghệ thuật. Những cây bút mực tài bao giờ cũng biết quyến rũ và thu phục người đọc những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc, ở đó, nội dung cũng là hình thức và hình thức cũng chính là nội dung.

          Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn học tự nhiên Việt Nam nói chung và thơ ca dân tộc nói riêng đã trãi qua bước chuyển đổi từ hệ hình nghệ thuật cổ điển đến hiện đại. Điều này hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, trong thời đại hội nhập và giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng, khi mà chủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành một trào lưu tư tưởng, văn hóa có tính toàn cầu thì nghệ thuật và thơ ca Việt Nam đương đại không thể nằm ngoài vùng phủ sóng của nó. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải quan tâm đến một hệ hình tư duy nghệ thuật mới: tư duy nghệ thuật hậu hiện đại. Theo sự quan sát của riêng tôi, đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu hiện đại trong thực tiễn sáng tạo văn học cho dù, trên bình diện lý luận, chúng ta vẫn chưa hình dung (nhất trí) được thật rõ về sự tồn tại của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam (1). Tại đây, có lẽ cần phải chú ý đúng mức hơn một thực tế: sự phát triển của nghệ thuật không chỉ phụ thuộc vào đời sống xã hội chính trị của một quốc gia mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh văn hóa toàn cầu.

          2. Không khó khăn lắm để nhận thấy thơ ca sau 1975, mặc dù chưa có những tác phẩm xuất sắc như mong đợi nhưng đã có nhiều đổi khác so với thơ ca các giai đoạn trước đó về tư duy nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu,… Cái tôi của cá nhân được nói đến nhiều hơn, ý thức phám phá những vùng mờ tâm linh và ý thức làm nhòe ngôn ngữ được tăng cường, sự pha trộn thể loại và việc sử dụng nhiều kênh ngôn ngữ dần trở thành phổ biến…

          Vì thế nếu ai than phiền thơ đương đại khó nhớ, khó thuộc thì cũng phải dần quen với sự thay đổi mang tính quan niệm: khác với các nhà thơ truyền thống lấy thần cú nhãn tự làm sở đắc, các nhà thơ đương đại chú ý nhiều hơn đến việc cấu trúc văn bản nghệ thuật, chú ý nhiều hơn đến cách nói của mình. Mà với họ cấu trúc thơ (bao gồm cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng, thiết tạo văn bản,…) được hình dung như những cuộc chơi, những trò chơi bất tận. Dĩ nhiên, để chơi được và chơi hay trong lĩnh vực nghệ thuật là chuyện không hề đơn giản, bởi  Nghề chơi cũng lắm công phu (Nguyễn Du). Ở đây, “chơi” là một hình thức phiêu lưu trong nghệ thuật, là hình thức mở rộng tưởng tượng, là một nẽo đường nhà thơ vượt qua khỏi những quy phạm nghệ thuật. Vì thế, để chơi một cách thực sự, nhà thơ vừa đầy ngẫu hứng vừa hết sức chặt chẽ trong tổ chức diễn ngôn nghệ thuật của mình. Như vậy, đó không phải là thứ trò chơi “vô tăm tích” mà phải là thứ trò chơi có nghĩa. Những tầng nghĩa trùng điệp ấy được xây dựng trên cơ sở giải phóng trí tưởng tượng và cảm nhận về tự do của con người (cả về phương diện sáng tạo lẫn thưởng thức nghệ thuật).

          Quan sát thơ ca đương đại, ai cũng nhận thấy sự đa dạng về khuynh hướng sáng tạo. Theo quan điểm phát triển, sự đa dạng này là điều cần có và nên có bởi đó chính là bản chất của nghệ thuật. Trong một bài viết trước đây, tôi tạm chia thơ ca sau 1975 thành bốn khuynh hướng: a - Xu hướng viết về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận của dân tộc; b - xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những lo âu của đời sống thường nhật; c - xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh, tượng trưng siêu thực; d - xu hướng hiện đại (và hậu hiện đại) (2). Tuy nhiên, dù đa dạng về khuynh hướng và bút pháp nghệ thuật thì chung quy lại, thơ sau 1975 có hai con đường đổi mới cơ bản:  thứ nhất, đổi mới trên nền truyền thống thơ ca dân tộc và, thứ hai,  đổi mới trên cơ sở tiếp thu thành tựu thơ ca hiện đại thế giới. Cách đổi mới thứ nhất thường dễ được chấp nhận hơn vì kết quả của nó là những sản phẩm nghệ thuật vừa quen vừa lạ. Cách đổi mới thứ hai dễ gây  shock  với nhiều người vì đó là những sản phẩm khoát trên mình những y phục xa lạ với số đông. Để hiểu nó, người ta phải tạo nên được những “lỗ tai mới” như Lê Đạt từng đề nghị.

          Trong quá trình đổi mới, một vấn đề thường được nói nhiều, bàn nhiều là vấn đề truyền thống và hiện đại. Với nhiều người, truyền thống là những gì lạc hậu, không hợp thời, vì thế, muốn sáng tạo cái mới, phải nhanh chóng thoát khỏi truyền thống. Nhưng vấn đề lại không đơn giản như thế. Đúng là truyền thống có những mặt ổn định, nó là kinh nghiệm của một thời đã qua. Trong truyền thống, có những mặt bảo thủ và lặp lại; nhưng mặt khác, ở khía cạnh tích cực nhất của nó, truyền thống hàm chứa cả ngay những yếu tố mở, hiện đại (3). Không phải ngẫu nhiên mà giữa thơ Đường Trung của Trung Hoa và thơ tượng trưng Pháp lại có những điểm gặp gỡ. Tương tự như thế, yêu cầu tính hàm súc trong nghệ thuật phương Đông cũng có sự gặp gỡ với nguyên lý “tảng băng trôi” của nhà văn Mỹ hiện đại Hemingway (4)… Đó là kể những yếu tố tượng trưng, siêu thực đã từng xuất xuất hiện rất lâu trong lịch sử trước khi chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực ra đời như một isme có ảnh hưởng toàn thế giới… dĩ nhiên, nói như thế không có nghĩa là các thời đại sau không có gì mới mẻ hơn, mà điều quan trọng là ngay trong truyền thống, những yếu tố hiện đại đã có thể xuất hiện ở mức mầm nụ, để thời đại sau phát triển mạnh mẽ hơn. Ngay cả chủ nghĩa hậu hiện đại, khi coi hoài nghi và giễu nhại như một nguyên tắc cơ bản, thì cũng phải có đối tượng để nhại, và một trong những đối tượng ấy chính là truyền thống nghệ thuật trước đó. Tuy nhiên, vai trò quan trọng nhất của truyền thống, ở khía cạnh tích cự nhất của nó, chính là kinh nghiệm nghệ thuật cho đời sau. Kinh nghiệm nghệ thuật ấy có thể có tác dụng điều chỉnh, cảnh báo; có thể mang chức năng hướng đạo, có thể trở thành những huyền thoại, những mẫu gốc để thời đại sau, hoặc cung cấp nghĩa mới, hoặc cải biến và coi như một phản  đề nghệ thuật. Như vậy, các thời đại sau, khi nhìn về truyền thống, vừa có sự tiếp nối, vừa có sự phủ định. Vấn đề đặt ra là ở chỗ, đó phải là thái độ phủ định lịch sử chứ không phải phủ định sạch trơn theo kiểu chủ nghĩa vị lai. Về phương diện nào đó, lời cảnh báo của Raxun Gamzatov xem ra vẫn có ý nghĩa đối với các nhà thơ hôm nay: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”. Nhưng ở phương diện khác, để phát triển, thơ ca không thể bằng lòng nằm yên trong quỹ đạo truyền thống, tự biến mình thành cái đuôi của quá khứ. Bên cạnh việc tìm nguồn dưỡng sinh từ những kinh nghiệm nghệ thuật truyền thống và tính hiện đại của truyền thống, phải có những đột phát nghệ thuật truyền thống và tính hiện đại của truyền thống, phải  có những đột phát nghệ thuật mang tính thời đại. Tại đây những cách tân nghệ thuật của nhân loại cần phải được học tập và phát huy hiệu quả trong thực tiễn sáng tạo. Thực tế lịch sử văn học cho thấy, những cuộc giao lưu văn hóa lớn và cởi mở sẽ sinh tạo nên nhiều nghệ thuật xuất sắc. Tất nhiên, điều quan trọng nhất là phải có bộ lọc văn hóa thích hợp trong quá trình tiếp nhận. Nhìn vào phong trào thơ mới, chúng ta có thể rút ra nhiều kinh nghiệm đáng quý qua sự tổng kết của Hoài Thanh Hoài Chân trong  Thi nhân Việt Nam. Khi nói về ảnh hưởng thơ ca Pháp. Hoài Thanh, Hoài Chân nhận định: “Hồn thơ Pháp hễ được chuyển vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn. Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến Noailles. Tôi phải dằn lòng tôi, không cho xôn xao mới thấy thấp thoáng bóng tác giả Le Coeur innom - brable. Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam. Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải (5). Còn với thơ Đường, các nhà thơ mới đã có ứng xử hợp lý: “Họ không muốn nhăn mặt. Sợ mang cái dại của Đông Thi. Họ tìm đến những vẻ đẹp khác. Thơ mới ra đời” (6). Trong hai nhận định này, có ba điểm đáng lưu ý: một – khi tiếp nhận văn hóa nước ngoài, cần phải biết Việt hóa nó, phải biết làm giàu bản sắc thơ ca dân tộc trên cơ sở bồi đắp những nguồn dưỡng chất mới; hai – phải chống lại sự sao chép vì sao chép trước sau cũng bị đào thải; ba – để tránh lặp lại, dù lặp lại những đỉnh cao như Đông Thi, nhà thơ phải biết tìm đến những vẻ đẹp khác, tức sáng tạo nên những con đường nghệ thuật khác cổ nhân. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần “văn chương tối kỵ của văn chương là lặp lại người khác).

          Tuy nhiên, không thể và không nên tạo nên những khuôn mẫu cho nhà thơ trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc như thế nào cho phù hợp. Điều đó tùy thuộc vào thể tạng của họ và tính chuyên nghiệp trong nghiệp cầm bút của họ. Vì thế, đề cao tính chuyên nghiệp của người cầm bút thực chất  là đề cao bản lĩnh văn hóa, để cao tính sáng tạo và sự dấn thân trong nghệ thuật của nhà thơ.

          3. Trong những năm gần đây, đời sống thơ ca nước ta có những cách tân mạnh mẽ. Đó là hiện tượng thơ “dòng chữ”, “thơ chơi”… về thực chất, các nhà thơ này đề cao vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật, chống lại sự mòn cũ trong các diễn ngôn đã có. Bởi thế, không nên quá sốt ruột và tìm cách phủ định những nỗ lực của họ trong việc làm mới thơ ca, nhất khi thơ đang rơi vào tình trạng ảm đạm như hiện nay. Không phải các nhà thơ này không biết đến sự tồn tại của kiểu thơ thiên về nghĩa như thơ ca truyền thống. Điều mà họ mong muốn là qua chữ để có cách “ nhìn nghiêng” về thế giới, để vượt qua lối “vẽ truyền thần” trong văn học. họ muốn thơ khai mở tuệ nhãn, muốn đào sâu những “ú ớ” của vô thức, muốn hình dung thế giới như một văn bản, một tập hợp của vô số ký hiệu biểu đạt quen thuộc nhất với nhà thơ là chữ; Tôi giản dị đồng nhất thơ vào chữ - Trần Dần. Về điều này, Lã Nguyên có sự cắt nghĩa hợp lý: Ở thời đại hậu kỹ trị, “có sự thay đổi trong quan hệ giữa “vật” với “lời” (7). Trong tương quan mới, có sự thay đổi trong cấu trúc nghệ thuật: lớp văn bản hình tượng lùi lại để nhường chỗ cho lớp văn bản  ngôn từ  xuất hiện ở bình diện thứ nhất. Theo đó, ngôn ngữ có khả năng sinh tạo tư tưởng, là tư tưởng, là ngôi nhà của tồn tại. Ý nghĩa của nghệ thuật cũng như lý do tồn tại của thơ nằm chính trong những trò chơi ngôn từ tưởng như ngẫu hứng song kỳ thực hàm chứa trong đó tư tưởng giải phóng cá tính sáng tạo của nhà thơ. Không phải ngẫu nhiên mà tính ngẫu hứng và hàng loạt kết hợp độc đáo giữa cổ và kim, giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời thường, giữa cách nói thông dụng và cách nói lái, giữa nghiêm trang và bởn cợt… cũng như ý thức xóa mờ ranh giới thể loại trong thơ Bùi Giáng đã khiến nhiều người coi ông là người mở đầu cho thơ hậu hiện đại ở Việt Nam. Không phải bài thơ nào của Bùi Giáng cũng hay, nhiều bài nhàm và nhảm, nhưng những giọt “mưa nguồn” thơ ca của ông lại gợi mở nhiều ý nghĩa cho sáng tạo thơ. Rất có thể, những cách tân của các nhà thơ dòng chữ thời gian qua chưa đem đến những kết tinh nghệ thuật thực thụ, nhưng nó có ý nghĩa như những cú hích để đổi mới thơ Việt Nam đương đại. Chí ít, nó cũng là một chỉ dẫn để các nhà thơ đi sau lựa chọn cho mình một lối viết hợp lí hơn.

          Trong những nẻo đường cách tân thơ hiện nay, dường như có những lối đi bế tắc mà Tân hình thức là một ví dụ điển hình. Tân hình thức không hợp với thổ nhưỡng văn hóa Việt và trên thực tế, nó chưa mở ra những hướng đi triển vọng cho thơ. Một số các nhà thơ khác lại nói quá nhiều về tính dục, về sex và coi đó là những yếu tố khẳng định mình hiện đại, hợp thời. Viết về tính dục là một nhu cầu chính đáng, vì đó cũng là một hình thức giải phóng bản ngã, một cách trải nghiệm đời sống thông qua trải nghiệm cá nhân. Ngôn ngữ tính dục khi được thể hiện một cách nghệ thuật  sẽ có sức hấp dẫn rất lớn, làm cho con người trở nên nhân văn hơn, khát sống hơn. Nhưng nếu quá đà, nó sẽ rơi vào phản cảm. Đó là lý do vì sao nhiều người không chấp nhận được những tác phẩm mà sự tục tĩu xuất hiện quá dày đặc. Khó có thể lấy sự tự do trong sáng tạo nghệ thuật để biện minh cho những sản phẩm chưa phải là tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh này.

          Trong khi người đọc thờ ơ với thơ ca thì những hình thức mới như thơ trình diễn, thơ sắp đặt… cũng cần được khuyến khích. Nhưng không nên ảo tưởng đó là thơ của thời đại hôm nay, rằng chỉ có trình diễn, chỉ có sắp đặt mới hiện đại. Vì đó vẫn là chuyện “cũ người mới”! Thực chất, đó là những con đường kéo công chúng lại nói thơ, giúp họ hiểu hơn  về những khả năng và không gian tồn tại của thơ. Còn trong thực tế, những tác phẩm thơ ca đích thực vẫn phải là những sáng tạo ngôn từ của nghệ sĩ. Khởi thủy là lời. Ngôi nhà của tư tưởng, sự khai sáng và hấp lực của thơ ca chỉ có thể hiện lên một cách rõ nét và sống qua lời. Lời là chính là đời sống, là tấm căn cước tinh thần của nhà thơ trình ra trước cuộc đời. Nếu hiểu như thế thì thơ vừa là “phu chữ” vừa là “máu chữ”. Khi nhà thơ sống hết mình với những khát vọng của mình, sống tận cùng với những nỗi đau và niềm hạnh phúc của con người, nghe thấy những âm vang sâu xa và bí mật của cuộc sống, anh ta sẽ phải biết làm thế nào để gõ cửa tâm hồn người khác bằng ngôn ngữ riêng của mình. Và cùng với nó, khi nhà thơ đi đến tận cùng vẻ đẹp của dân tộc, anh ta sẽ bắt gặp nhân loại. Có thể coi đó là con đường chính đạo của thơ ca!

(1) Trong khi có nhiều nhà nghiên cứu vẫn nghi ngờ về hậu hiện đại, coi đó là sự “chồng chéo khái niệm” thì một số người lại nói đến dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam. Có thể tham khảo: Nguyễn Văn Điệp: Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp (Trong sách  Vọng từ con chữ Nxb Văn học, 2003); Lã Nguyên: Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài; Cao Kim Lan: Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết hệ hình thi pháp hậu hiện đại, tạp chí  Nghiên cứu văn học,  số 12 năm 2007… Hậu hiện đại cũng là mối quan tâm của một số nhà nghiên cứu như Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Phạm Xuân Nguyên, Đào Tấn Ảnh, Lê Huy Bắc,…

          (2) Xem Nguyễn Đăng Điệp: Thơ Việt Nam sau 1975 – từ cái nhìn toàn cảnh, Tạp chí Nghiên cứu văn học,  số 11. 2006.

          (3) Xem Trần Đình Sử: Truyền thống và tính hiện đại của truyền thống, Tạp chí Cộng sản,  số 15, táng 8, năm 1996.

(4) Trong bài viết Từ thi học so sánh, thử tìm nguyên nhân hài hòa giữa thơ Đường với thơ tượng trưng Pháp trong thơ mới ở Việt Nam, Tạp chí Nhà văn, số 7.2004 Phương Lựu cũng thử tìm cách cắt nghĩa sự gặp gỡ và ảnh hưởng Đông – Tây qua một trường hợp cụ thể là Thơ mới.

(5) Hoài Thanh Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam,  Nxb. Văn học, H,.1988, tr.38/

(6) Hoài Thanh Hoài Chân Sđd, tr.48.

(7) Nguyên: Văn học kỳ ảo: Nhìn từ hệ hình thế giới quan, Tạp chí Văn học nước ngoài,  số. 2007, tr.132.

Cập nhật ( 04/04/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online