Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Biên Khảo arrow Giới thiệu một số ấn triện thời Nguyễn (Nguyễn Công Việt)
Giới thiệu một số ấn triện thời Nguyễn (Nguyễn Công Việt) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
06/07/2010

GIỚI THIỆU MỘT SỐ ẤN TRIỆN THỜI NGUYỄN

* Nguyễn Công Việt

Sự chấm hết của Chương cũng là sự định hình hoàn toàn của loại Ấn triện mới với tên gọi QUAN PHÒNG. Ấn Quan phòng chỉ xuất hiện trong thời kỳ nhà Nguyễn và tồn tại đến năm 1945 khi vua Bảo Đại thoái vị. Quan phòng có nghĩa là giữ gìn chỗ quan ải. Những việc hệ trọng nơi quan ải, thường có liên quan đến việc phân bổ quan chức mang tính chất khâm sai, lâm thời biệt phái. Từ ý nghĩa chức vụ được điều hành đó, "Quan phòng" đã được chuyển thành 2 chữ cuối cùng khắc trên quả ấn. Ấn này được gọi là ấn Quan phòng. Ngay từ đời Gia Long, bên cạnh những ấn lớn và kiềm nhỏ, một số quan lớn đã được cấp ấn Quan phòng nhỏ, dùng với ý nghĩa chức vụ của mình. Ấn Quan phòng, từ khi nhà Nguyễn dựng nghiệp cho đến đầu đời Minh Mệnh, chỉ xuất hiện với những ấn dấu loại nhỏ. Phải đến năm Minh Mệnh 13 (1832) với việc thay đổi cơ cấu quan chức, với việc thành lập cấp tỉnh và bổ nhiệm những chức quan mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Lãnh binh v.v... đồng thời, với việc bỏ không dùng Chương, thì ấn Quan phòng mới được định hình hoàn toàn. Nếu định nghĩa thì Quan phòng là ấn chức vụ của các chức quan ở cấp lãnh đạo.

Quan phòng bao giờ cũng được làm theo hình chữ nhật. Chữ triện khắc tên Quan phòng thường xếp theo chiều dọc: hai hoặc ba hàng. Khi áp trên văn bản, dấu có hình chữ nhật đứng. Việc chế tạo cũng như việc dùng Quan phòng được qui định theo khuôn cỡ, kích thước rõ ràng. Đại Nam điển lệ ghi(2): "Lệ năm Minh Mệnh (1831) định các quan Tổng đốc(3), Tuần phủ(4) ở các tỉnh, ấn Quan phòng từ cái chỏm ấn trở xuống, dài 2 tấc 5 phân, ngang 1 tấc 4 phân... Ấn các quan Đề đốc(5), Lãnh binh(6) dài 1 tấc 8 phân, ngang 1 tấc 2 phân. Ấn của quan Đốc học(7) dài 1 tấc 6 phân 2 ly, ngang 1 tấc 1 phân".

Cũng như Ấn, Quan phòng có hai loại to và loại nhỏ. Loại to tạm gọi là Quan phòng lớn, như Quan phong (ấn chính) của các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Đề đốc, lãnh binh. Loại nhỏ, tạm gọi là Quan phòng nhỏ, ấn chức vụ (ngoài ấn lớn cơ quan) của chức quan Thượng thư, Tham tri ở các bộ; các quan chức Đô thống phủ thống chế bên quân đội v.v... Như vậy Quan phòng lớn - nhỏ không đi theo cặp cùng một nội dung như Ấn - kiềm, mà tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi chức quan. Những chức quan được dùng quan phòng lớn với kiềm nhỏ theo cùng cặp là kiềm hình vuông. Ví dụ Quan phòng của Tổng đốc Hà Ninh là "Hà Nội Ninh Bình Tổng đốc quan phòng" và kiềm nhỏ hình vuông khắc 4 chữ: "Hà Ninh Tổng đốc"(8).

Việc đóng ấn Quan phòng trên văn bản cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Đối với quan phòng lớn: "Đại Nam điển lệ" ghi: Lệ năm Minh Mạng 13 định... Các ấn (quan phòng, ấn) nói trên đều dùng hộp son đóng trên chữ nguyệt ở dòng niên hiệu"(9). Đối với quan phòng nhỏ "Minh Mệnh chính yếu" cũng đã ghi: "Vua chuẩn định cho các quan trong triều, phàm tờ tấu nào, dưới chỗ ký tên được đóng ấn Quan phòng, chỗ niên hiệu đóng ấn Công đồng..."(10).

Xem xét những văn bản gốc thuộc kho châu bản triều Nguyễn (kho lưu trữ T.W II, Tp. HCM). Chúng tôi thấy rất nhiều dấu quan phòng nhỏ, đóng dưới chỗ ký tên như trên đã nói. Đây là những quan phòng chức vụ của những chức quan khác nhau ở những cơ quan khác nhau. Những dấu này được áp trên cùng một văn bản chữ Hán, mang niên đại các vua thời Nguyễn sơ. Những văn bản đó có liên quan đến hội nghị Công đồng (sau này đặt là Hội nghị Đình thần). Nó là những cứ liệu trung thực giúp ích trong vấn đề nghiên cứu lịch sử đương thời. Từ khi còn chống nhau với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã lập ra sở Công Đồng. Đây là một cơ quan Công nghị, tập trung những phần tử ưu tú. Tổ chức này đóng vai trò rất lớn trong chiến thắng mà Nguyễn Ánh đã giành được từ tay nhà Tây Sơn.

Trong đời Gia Long và những đời vua tiếp, Hội nghị Công đồng vẫn được mở thường kỳ mỗi tháng 1 lần (kỳ họp 4 ngày liền). Vua tham khảo ý kiến đình thần để quyết định những việc trọng đại. Trên văn bản (Biên bản ghi nội dung cuộc họp) dấu lớn "Công đồng chi ấn"(11) có cỡ 9,6x9,6cm đóng chỗ ghi niên hiệu. Phía dưới là một loạt Quan phòng nhỏ đóng dưới chỗ ký tên. Mỗi ấn quan phòng nhỏ đại diện cho một cơ quan hành pháp hay tư pháp tối cao. Quy định thành phần dự: Quan văn phẩm trật từ Tòng nhị phẩm trở lên, quan võ từ Chánh nhị phẩm trở lên (qui định sau này có hạ xuống 1 trật). Trên văn bản hội nghị, qui định này cũng thể hiện rõ ngay bằng kích thước các dấu Quan phòng nhỏ. Quan phòng của Thượng thư có cỡ 2,5x3,8cm như "Lễ bộ thượng thư quan phòng" của Tả hữu Tham tri, Tả hữu thị lang, Biện lý (chức có sau này). Quang lộc tự khanh đồng cỡ: 2,1x3,8 cm như "Binh bộ tả tham tri quan phòng" của Đô thống phủ Đô thống trưởng phủ sự cỡ 3x4,2 cm như "Hậu quân đô thống phủ quan phòng" v.v...

Điểm đáng chú ý ở đây là việc đặt ra quan phòng lớn và quan phòng nhỏ có liên quan đến quy chế quan chức triều Nguyễn. Quan Tổng đốc nếu xét về chức vụ phẩm hàm thì cũng ngang với quan Thượng thư(12) các Bộ. Nhưng Tổng đốc lại dùng Quan phòng lớn còn Thượng thư dùng Quan phòng nhỏ. Giở lại quan chế triều Nguyễn ta thấy Tổng đốc là quan đứng đầu liên tỉnh. Tổng đốc vừa là chức quan cao nhất ở địa phương, vừa mang tính chất một khâm sai đại thần tại địa phương. Quản hạt của Tổng đốc không có danh xưng mà chỉ dùng tên địa phương để gọi. Nên Tổng đốc dùng Quan phòng lớn làm ấn dấu chính, bên cạnh có kiềm nhỏ. Còn Thượng thư đứng đầu một cơ quan cấp Bộ, nên dùng Ấn làm ấn dấu chính; bên cạnh có kiềm nhỏ và Quan phòng chức vụ.

Quan phòng lớn của Tổng đốc và Tuần phủ đối với một địa phương rất quan trọng. Ở các tỉnh không có Tổng đốc Tuần phủ, mỗi khi có việc cơ mật, quan Bố chánh(13) và Án sát(14) phải họp với nhau, thì công văn đóng liền 2 ấn lớn cơ quan đệ trình lên quan Tổng đốc Tuần phủ kiêm quản hạt mình, không được trình thẳng lên triều đình. Còn tất cả văn bản có quan phòng lớn của Tổng đốc, Tuần phủ thì được trình thẳng, không thời hạn. Lệ về ấn, Quan phòng đối với các chức quan cấp tỉnh được Đại nam điển lệ ghi: "Lệ năm Minh Mệnh thứ 14 định rằng phẩm hạt nào, gồm có các quan Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh và Án sát cùng một tỉnh, khi gặp có khuyết một trong bốn chức nói trên, thì ấn triện của quan Tổng đốc chuẩn giao cho quan Tuần phủ tạm giữ; Ấn triện của quan Tuần phủ chuẩn giao cho quan Tổng đốc; ấn triện của quan Bố hay quan Án đều chuẩn giao cho quan Tổng đốc; Nếu khi ấy không có quan Tổng đốc thì giao cho quan Tuần phủ, Hạt nào chức hàm Tổng đốc mà lĩnh Tuần phủ, hay hàm Tuần phủ mà Thự Tổng đốc quan phòng cùng với quan Bố, quan Án một tỉnh, khi khuyết chức nào thì ấn triện quan Bố, hay quan Án đều giao cho quan Tổng đốc hay Tuần phủ tạm giữ...(15)

Giới thiệu tiếp 1 dấu Quan phòng lớn đóng trong tập Công văn cựu chỉ(16). Dấu hình chữ nhật đứng cỡ 5,6x9. Viền ngoài để đậm 0,1- 0,6cm chữ triện xếp theo chiều dọc 2 hàng. Kiểu chữ vẫn vuông thẳng như đời Gia Long, nét chữ đã có mềm và đơn giản hơn. Đó là 6 chữ "Ninh Bình tuần phủ quan phòng".

(Xem ảnh 1) là Quan phòng của quan Tuần phủ tỉnh Ninh Bình. Dấu được áp trên văn bản có ghi dòng chữ "Minh Mệnh thập tam niên nhị nguyệt sơ thập nhật". Dấu đề trên năm chữ cuối dòng. Như vậy dấu đóng vào ngày 11 tháng 2 năm Minh Mệnh 13 (1832). Đây là minh chứng cụ thể cho luận cứ trên.

Giới thiệu tiếp 1 Quan phòng nhỏ áp trên văn bản, trong một cuộc họp Đình thần năm Tự Đức 13 (1860)(17). Dấu hình chữ nhật đứng, cỡ 2,5x3,8cm, 6 chữ triện chia làm 3 hàng. Nét chữ đơn giản dễ đọc. Đó là 6 chữ "Lại bộ thượng thư quan phòng" (xem ảnh 2). Đây là dấu của quan Lại bộ Thượng thư sung quản lĩnh thị vệ đại thần Tôn Thất Thường.

Thuộc dạng Quan phòng lớn, bên quân đội nhà Nguyễn có nhiều chức được dùng như dấu "Thống đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng" cỡ 5,5x7,8cm, dấu "Tham tán quân vụ quan phòng" cỡ 5,2x7,5cm v.v... Quan phòng cấp tạm thời cho người đi làm công vụ, được quyền thay mặt vua định đoạt mọi việc, khi về lại trả lại ấn, như dấu "Khâm sai quan phòng" cỡ 5,5x7,5cm. "Khâm phái quan phòng" cỡ 4,5x6,2cm. Ngoài ra còn những ngạch khác, như chức quan phụ trách thương thuyền được dùng các dấu như dấu: "Quản lý thương thuyền quan phòng" cỡ 6,2x9cm v.v... Loại này thuộc dạng quan phòng nhỏ, có nhiều chức quan được dùng. Ngạch võ như dấu "Thần cơ thống chế quan phòng" cỡ 2,5x5,8cm, "Trung quan đô thống phủ quan phòng" cỡ 3x4,2cm v.v...

Quan phòng nhỏ ở Nội các như dấu "Sung biện nội các sự vụ quan phòng" cỡ 3x4,2cm. Ở các ngạch khác như kho vũ khố dấu là "Vũ khố quan phòng" cỡ 3x4,2cm v.v...(18)

Một loại hình ấn triện nữa tuy xuất hiện với số lượng ít, nhưng cũng phải được xếp vào danh mục các loại hình ấn triện, ngang hàng với Ấn, Chương, Quan phòng. Đó là ĐỒ KÝ: Đồ ký được dùng cho các quan dưới chức quan lớn chính ngạch, thường là các quan nhỏ: quan phụ trách phân Phủ, Huyện thừa, Giáo thụ, Huấn đạo. Trưởng quan các Ty. Chức quan đứng đầu các Vệ, Thuyền bên quân đội...

Như chúng tôi đã trình bầy, việc phân chia khu vực hành chính, phân cấp địa phương có liên quan đến việc thay đổi và bổ sung ấn triện. Thời Nguyễn sơ, ngay từ đầu Gia Long đã đặt các phủ lẻ. Phủ có 2 loại: Phủ và Phân phủ. Đứng đầu phủ là Tri phủ, dùng ấn đóng chữ Ấn. Ví dụ dấu "Thường Tín phủ ấn" Phủ nhỏ đặt là phân phủ. Đứng đầu là Đồng tri phủ. Đồng tri phủ dùng ấn đóng chữ Đồ ký, để phân biệt với ấn của Tri phủ, như dấu : "Ứng Hòa phân phủ Đồ ký". Ngoại hình, kích thước của dạng dấu Đồ ký khác hẳn với ấn Tri phủ.

Đồ ký thể hiện rõ nét ở ngạch giáo dục. Chức quan giáo dục như Giáo thụ(19), Huấn đạo(20) đều dùng dấu Đồ ký. Kích thước của Đồ ký cũng phụ thuộc vào tính chất chức quan. Quy định này được "Đại nam điển lệ" ghi ở mục "Ấn triện các quan chức". "Lệ năm Minh Mệnh thứ 13 định... Ấn triện Đồng tri phủ dài 1 tấc 4 phân 4 ly, ngang 1 tấc 4 ly. Ấn các viên Giáo Thụ, Huấn đạo dài 1 tấc 3 phân, ngang 8 phân 1 ly. Các ấn nói trên đều dùng hộp son đứng trên chữ nguyệt ở dòng niên hiệu..."(21).

Xin miêu tả 1 ấn Đồ ký còn tồn tại trong dân gian. Ấn có chất liệu bằng đồng. Ngoại hình làm theo hình núm, núm thắt đáy loe trên. Dày khoảng 1 cm và cao khoảng 2,5 cm. Ấn làm theo hình chữ nhật. Mặt trên núm không có chữ khắc (xem ảnh 3). Dấu hình chữ nhật đứng cỡ 3,1x5,4cm. Viền ngoài để mảnh 0,1 cm, 6 chữ triện chia làm 2 hàng. Nét chữ vuông vức rõ ràng. Đó là 6 chữ "Quỳnh Côi Huấn đạo đồ ký"(22) (xem ảnh 1). Đây là dấu của viên Huấn đạo phụ trách việc Giáo dục ở huyện Quỳnh Côi, phủ Thái Bình(23).

Trên ấn không ghi niên đại, nhưng qua hình dấu, tự dạng chữ triện, chúng tôi thấy đời Gia Long tự dạng chữ trong dấu nét khắc vuông vức uốn vòng nhiều nét, khó đọc, gần với tự dạng ấn triều đại trước. Nét chữ quả ấn này đơn giản, ngắn, dễ đọc, đồng dạng với những ấn triều Nguyễn sau này. Như vậy có thể khẳng định đây là ấn đời Nguyễn khoảng từ đời Minh Mệnh trở lại.

Các Ty phiên ở những cơ quan lớn cấp Trung ương dùng ấn đóng chỗ Đồ ký, để phân biệt với những cơ quan lớn hơn một chút được dùng ấn Quan phòng. Như Ty Lý thiện dấu là "Lý thiện danh ty đồ ký". Ty Tiết thận là "Tiết thận ty đồ ký". Ngang cấp Ty có những Viện, khố cũng dùng Đồ ký như dấu: "Thượng tứ viện đồ ký". "Hỏa nhạc khố đồ ký".

Đặc biệt bên quân đội, số lượng Đồ ký tương đối nhiều. Chức trưởng ở những cấp Vệ và cấp cơ sở Đội, Thuyền đều sử dụng dấu Đồ ký. Vệ Loan giá có dấu "Loan giá vệ đồ ký". Thuyền Nam Hưng với dấu " Nam Hưng đồ ký" v.v... Tất cả những dấu Đồ ký trên đều có kích thước, ngoại hình khác nhau bố cục tự dạng trong dấu cũng khác nhau theo quy định cho mỗi loại cấp, đơn vị.

Sự phức tạp của ấn triện còn thể hiện trong loại hình ấn triện nhỏ mà chúng tôi tạm đặt là Tín ký L và Ký L .

Ngay từ thời Gia Long, tất cả các cơ quan lớn nhỏ trong triều ai cũng được phép tự chế tạo 1 quả ấn nhỏ riêng cho mình. Việc tạo ấn này mang tính chất tự do, giống với ấn tư ở giới thương mại, chưa có quy định nào cụ thể. "Minh Mệnh chính yếu" ghi lại trong mục Minh Mệnh năm thứ 7 rằng: "Đình thần tâu: Trước nay các quan viên trong triều, ngoài quận được giao cho ấn triện, Quan phòng đều đã có phép nhất định. Duy có việc dùng ký triện riêng tự ý chế tạo, thể thức chế khác nhau, chưa đủ để phân biệt tôn ty mà tín nhiệm được, xin định cho cách thức thể chế(24).

Theo sự thống kê của chúng tôi, chữ triện khắc trên tất cả ấn riêng của các quan viên này thường là: Tính danh + Tín ký; hoặc Tính danh + Ký.

Có rất ít chức danh không Tín ký, hoặc chức danh không ký. Còn Ký triện là từ dành cho cấp Tổng, xã. Đầu thời Minh Mệnh, chưa có quy chế về loại hình ấn này. Nên ở "Minh Mệnh chính yếu" gọi là Ký triện riêng. Theo chúng tôi phải đặt loại ấn tên riêng này là loại Tín Ký và Ký mới đúng.

Cũng trong năm Minh Mệnh thứ 7, quy chế về loại hình Tín ký và Ký mới được ban hành: "Vua bèn cho phép các quan văn võ được chế Triện riêng hình vuông dấu khắc mấy chữ "Tính danh mỗ Tín ký" nhưng phải lấy chức phẩm cao thấp mà định phân tấc: Triện của nhất nhị phẩm dài 1 tấc 4 phân, ngang 1 tấc 3 phân. Triện của tam tứ phẩm dài 1 tấc 2 phân, ngang 1 tấc 1 phân. Từ tam phẩm trở lên đóng Triện bằng son, tứ phẩm đóng mực hồng. Ngũ phẩm trở xuống đóng mực đen. Vua thuận cho".

Giới thiệu một dấu Tín ký áp trên văn bản tập "Công văn cựu chỉ". Dấu hình chữ nhật đứng cỡ: 4,7x5,1cm viền ngoài để đệm 0,5 cm, 5 chữ triện xếp theo 3 hàng, 4 chữ "chia hai hàng bên, 1 chữ ở giữa dài gấp đôi mỗi chữ bên, để cân đối với bố cục dấu. Đó là 5 chữ "Trần lễ nghi tín ký"(25) (xem ảnh 5).

Đây là Tín ký riêng của quan Lãnh binh tỉnh Ninh Bình, kích thước dấu đúng như quy định vua Minh Mệnh đã ban hành trong năm Minh Mệnh thứ 7. Từ khi có quy chế ban hành, Tín Ký chính thức được dùng trong hàng ngũ các loại hình Ấn triện.

Tín ký là dấu chứng nhận cho một số văn bản mang tính chất khu vực, có giá trị lớn đối với địa phương và chức quan đó quản hạt, cũng như có hiệu lực đối với quan lại và thuộc viên cấp dưới. Nhưng đối với công vụ, những việc tấu trình lên trên, thì giá trị của Tín Ký giảm hẳn bên cạnh hiệu lực của ấn dấu chính: Ấn, Chương, Quan phòng.

Bố cục chữ Tín Ký khắc trên dấu: Nếu tính danh có tên đệm thì họ được viết ở giữa 2 chữ Tín ký xếp cùng một hàng (ví dụ xem ảnh 5). Nếu tính danh không tên đệm thì Tín Ký thường xếp ở 2 bên theo mẫu:

Ngoài Tín Ký và Ký ra còn có loại dấu chức danh không tín ký hoặc chức danh không ký. Số lượng loại này không nhiều, xin được giới thiệu ở một dịp khác. Cùng hàng với Tín ký còn có Ký, Ký thường dùng cho các loại thuộc ở các cơ quan như Thư lại, Vị nhập lưu Thư lại (gọi là lại điển) hoặc những người chưa có phẩm hàm, hoặc phẩm hàm thuộc hàng thấp nhất.

Ký ở đây có sự đồng hàng lẫn với ký triện của cấp cơ sở thấp nhất: Chánh tổng, Lý trưởng. Vì Chánh tổng có phẩm hàng ngang với Thư lại. Chúng tôi thấy cần phải đặt Ký sang cùng loại hình ngang với Tín Ký, tách với Ký Triện của cấp Tổng, xã. Vì thực sự số lượng lại điển ở các cơ quan rất nhiều. Vả lại hình thể dấu của loại ký này khác hẳn những loại hình ấn khác.

Nhưng dấu Ký được làm theo hình bát giác, thuôn kiểu hình thoi. Hai cạnh ở giữa lõm hình vòng cung. Viền ngoài để đệm 0,2cm, có đường họa tiết uốn theo hình dấu. Một đường viền hình chữ nhật đứng, bên trong là 3 chữ Triện xếp theo hàng dọc: Họ + tên + Ký. Kích thước dấu đo theo kiểu hình chữ nhật: dài x rộng, ví dụ 1 dấu loại này có hình thức như đã mô tả. Kích thước 3,2x3,7cm, 3 chữ triện bên trong là Trần Tố ký (xem ảnh 6). Đây là con dấu của ông Trần Đình Tố, là vị nhập lưu Thư lại. Dấu áp trên bản công văn mà chính tay viết, trong tập Công văn cổ chỉ(26).

Loại hình ấn triện cuối cùng được giới thiệu trong đề tài này là Ký Triện hay còn gọi là Triện , Ký Triện hay Triện là ấn dấu của Cai tổng (tức Chánh tổng) và Lý trưởng, những người đại diện cho chính quyền ở cấp tổng, xã là đơn vị hành chính thấp nhất.

Lệ nhà Nguyễn quy định mỗi tổng đặt 1 Cai tổng. Tổng nào ruộng đất nhiều, hoặc đường đi xa đến hai, ba ngày thì đặt 1 Cai tổng và 1 phó tổng. Khi có khuyết thì viên Tri phủ, Tri huyện tuyển chọn nhân viên trong hạt, đề bạt lên. Bộ Lại duyệt, tâu cho cấp văn bằng làm Cai tổng thì sai đủ 3 năm sát hạch, đúng là người mẫn cán, thanh liêm mới cho thực thụ. Cai tổng thực thụ, làm việc tốt thì được thăng Chánh bát phẩm. Thâm niên, có thành tích được thăng hơn nữa. Tổng có nhiều xã, mỗi xã đặt 1 viên lý trưởng, làm đủ chín năm mẫn cán, được thưởng hàm Cửu phẩm.

Tìm hiểu tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn, chúng tôi thấy: Đơn vị hành chính căn bản của Việt Nam là tổng, xã, được hưởng một chế độ tự trị khá rộng rãi. Chánh tổng, lý trưởng đại diện cho Hội đồng hương lý, được quyền định đoạt tài sản của mỗi gia đình nông dân, quyết định số phận của mỗi người dân lao động. Một trong những biểu tượng cho quyền lực của tổng, lý là dấu Triện.

Tuy là cấp thấp nhất, nhưng triện của Chánh tổng, lý trưởng vẫn được làm theo nguyên tắc nhất định. Đại Nam điển lệ ghi: "Lệ Minh Mệnh 13 định... Triện của Chánh tổng dài 1 tấc, ngang 5 phân. Triện của Lý trưởng dài 8 phân, ngang 4 phân, đều dùng hộp mực, ở nửa trang dưới dòng chữ niên hiệu, ký tên đóng dưới tên ký..."(27)

Triện của Chánh tổng cũng như lý trưởng có ngoại hình đơn giản, cỡ nhỏ, núm gần giống Triện ngày nay. Triện làm theo hình chữ nhật, áp trên văn bản có hình chữ nhật đứng. Triện thời Nguyễn sơ làm nhỏ. Viền ngoài dấu để nét mảnh. 6 chữ Triện bên trong chia làm 2 hàng. Thường là tên địa phương (Tổng xã) + chức (Cai tổng, Lý trưởng) + Ký.

Triện nhà Nguyễn sau này (khi Pháp đã vào nước ta) có cỡ to hơn. Viền khung rộng ghi chữ Pháp hoặc chữ quốc ngữ (La tinh), bên trong viền khung mới có chữ Triện hoặc chữ Hán. Điều này thể hiện 2 hoặc 3 dạng văn tự trong cùng 1 còn dấu.

Giới thiệu 2 còn dấu của Cai tổng và lý trưởng cùng 1 địa phương, đóng trong cùng tập địa bạ tổng Đồng Xuân(28). Triện Cai tổng hình chữ nhật, cỡ 1,9x4cm. Viền ngoài có nét mảnh 0,1 cm, 6 chữ Triện bên trong xếp theo 2 hàng, là 6 chữ (Đồng Xuân tổng Cai tổng ký"(29) (Xem ảnh 7). Đây là dấu Triện của Cai tổng tổng Đồng Xuân.

Triện Lý trưởng hình chữ nhật, cỡ 1,6x3,5cm. Viền ngoài để nét mảnh 0,1cm. 6 chữ Triện bên trong xếp theo 2 hàng là 6 chữ "Đồng Xuân phường Lý trưởng ký"(30) (Xem ảnh 8). Đây là dấu triện của lý trưởng phường Đồng Xuân thuộc tổng Đồng Xuân.

Bước đầu giới thiệu sơ lược một số loại hình ấn Triện triều Nguyễn, từ ấn ngự bảo của vua đến ký triện của Cai tổng, Lý trưởng, chúng tôi muốn trình bày một cách khái quát và có hệ thống đặc điểm mỗi loại hình và mạnh dạn định nghĩa một số loại ấn triện. Vấn đề chi tiết và một, hai loại hình ấn, với số lượng rất ít như Kiềm Ký xin được giới thiệu vào một dịp khác.


CHÚ THÍCH:

(1) Tiếp theo bài viết cùng tên, đăng trên Tạp chí Hán Nôm, số 2/1988.

(2) Đại Nam điển lệ, mục 194, Nguyễn Sĩ Giác phiên âm dịch nghĩa. Nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn 1962, tr.227.

(3) Tổng đốc: thường đứng đầu 2 hoặc 3 tỉnh (chuyên 1 tỉnh và kiêm quản các tỉnh khác). Phẩm hàm: Binh bộ Thượng thư kiêm Đô sát viện hữu Đô ngự sử - Chánh nhị phẩm.

(4) Tuần phủ: đứng đầu 1 tỉnh nhỏ, hoặc tỉnh không có Tổng đốc quản. Phẩm hàm: Binh bộ tham tri kiêm Đô sát viện Hữu phó Đô ngự sử - Tòng nhị phẩm.

(5) Đề đốc: chức võ đứng đầu ở địa hạt kinh đô. Gọi là kinh thành Đô đốc - Chánh nhị phẩm.

(6) Lãnh binh: coi việc quân sự ở 1 tỉnh lớn (liên tỉnh) - chánh tam phẩm.

(7) Đốc học: phụ trách giáo dục ở một tỉnh - Chánh ngũ phẩm.

(8) Hai dấu này đóng trong tập Công văn cổ chí, ký hiệu A.3086, TV. VNCHN.

(9) Đại Nam điển lệ, mục 194, Sđd, tr.337.

(10) Minh Mệnh chính yếu. Tập V, quyển 13, Mục pháp độ, phần Minh Mệnh năm thứ 3, tr.9. In kèm nguyên bản chữ Hán. Bản dịch Hà Ngọc Xuyến. Bộ Văn hóa giáo dục và thanh niên xuất bản, 1974.

(11) Dấu "công đồng chi ấn" cùng các quan phòng nhỏ đã nêu, đóng trong các tập Chư bộ nha quyển 2, quyển 18 và quyển 119. Kho lưu trữ TW II, Tp. HCM.

(12) Thượng thư: đứng đầu một bộ mang phẩm hàm Thượng thư kiêm Đô sát viện - Tả đô ngự sử - Chánh nhị phẩm. Cùng tham tri và Thị lang gọi là Trưởng quan.

(13) Bố chánh sứ: coi việc thuế khóa, tài chính, đinh điền, đê điều ở một tỉnh, phẩm trật là chánh tam phẩm.

(14) Án sát sứ: coi về việc hình án, trị an, phong hóa kỷ cương, trừng thanh quan lại, cả việc giao thông trạm dịch trong 1 tỉnh. Phẩm trật là Tòng tam phẩm.

(15) Đại Nam điển lệ, mục 90 "Lĩnh chức vụ Ấn triện", Sđd., tr.103.

(16) Sao chụp ở Công văn cựu chỉ, ký hiệu A.3032 TV. VNCHN.

(17) Xem Châu bản triều Nguyễn - Chư bộ nha, quyển 119, Tự Đức 13. Kho Lưu trữ TW II, Tp. HCM.

(18) Tất cả những dấu dẫn chứng, đều đóng rải rác trong Chư bộ nha, quyển 18 và 19, Châu bản triều Nguyễn. kho lưu trữ TW II, Tp. HCM.

(19) Giáo thụ: phụ trách giáo dục một phủ lớn, phẩm hàm là Chánh thất phẩm.

(20) Huấn đạo: Phụ trách giáo dục một phủ nhỏ hay một huyện, Mang hàm Chánh bát phẩm.

(21) Đại Nam điển lệ: mục 194. Sách đã dẫn tr.337.

(22) Hình ấn và dấu Đồ ký này do ông Hoàng Giáp đã mô tả và rập được nguyên bản, tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, trong đợt sưu tầm năm 1985.

(23) Huyện Quỳnh Côi đời Gia Long thuộc phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam hạ, sau này thuộc phân phủ Thái Bình nay thuộc tỉnh Thái Bình.

(24) Minh Mệnh chính yếu tập V, quyển 18, mục Pháp độ, Phần Minh Mệnh năm thứ 7, tr.17, Sđd.

(25) Dấu "Trần lễ nghi tín ký" đóng trong tập Công văn cựu chỉ, Sđd.

(26) Công văn cổ chỉ, ký hiệu A.629. TV. VNCHN.

(27) Đại Nam điển lệ, mục 194, sách đã dẫn, tr.337.

(28) Đồng Xuân: đời Gia Long thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay thuộc khu Hoàn Kiếm, Hà Nội.

(29),(30) Hai dấu Triện này đóng trong tập Đồng Xuân tổng các thôn phương địa bạ, Ký hiệu A.3086, TV. VNCHN.

 

Cập nhật ( 06/07/2010 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online