Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color
Bạn đang xem:Home arrow Lịch Sử Văn Hoá arrow Đặc trưng văn học Lý Trần (Thích Thiện Lộc)
Đặc trưng văn học Lý Trần (Thích Thiện Lộc) PDF In E-mail
Người viết: ThanhHung   
16/03/2009

ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC LÝ TRẦN

* Thích Thiện Lộc

Có thể nói văn học Phật giáo thời Lý – Trần đã để lại biết bao ấn tượng tốt đẹp  trong lòng người đọc qua bao thế hệ. Mỗi lần lật lại trang sử vẻ vang của đời Trần, chúng ta chi xiết cảm động và khâm phục các vua Trần đã đoàn kết được mọi người, thống nhất được lòng dân, vua tôi hòa hợp, quyết tâm bảo vệ giang sơn gấm vóc, đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Hòa nhập vào vào vận hội thăng hoa của đất nước, những người Phật tử Việt Nam đã biết vận dụng sức mạnh tâm linh của Phật giáo, nâng Phật giáo Việt Nam lên ngang  tầm của thời đại.

Trong đó phải kể đến ngọn đuốc sáng của Thiền học Việt Nam Trần Thái Tông, một bậc hành xử lưỡng toàn cả đời lẫn đạo. Và ông đã trao lại tinh hoa Phật học của mình cho người học trò xuất sắc, vừa thân tình, vừa có tình cốt nhục, đó là Trần Nhân Tông. Ông quả xứng đáng là một vị vua anh hùng, một bậc lãnh đạo sáng suốt của dân tộc, một vị Tổ đã khai sáng phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, trong bản sắc đặc thù Việt Nam. Do đó, nhân dân đã kính tặng ông danh hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng, một người suốt đời chỉ biết tận tụy, vì dân, vì nước, vì sự nghiệp hoằng dương chánh pháp đến hơi thở cuối cùng. Đó là những nét độc đáo của Thiền học, thông qua những tác phẩm văn học Phật giáo thời Li – Trần, mãi mãi là dấu ấn vàng son trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc với hơn bốn ngàn năm văn hiến, trải qua các thời Văn Lang, Âu Lạc, Đại Việt cho đến ngày nay thì thời đại Lí - Trần là thời kỳ cực thịnh nhất ở nước ta. Cũng chính trong thời kỳ này, Phật giáo đã hòa nhập trong lòng dân tộc, cùng dân tộc đưa đất nước và đạo pháp ngày càng phát triển. Thơ văn Li – Trần có thể nói là một mảng văn chương rất đặc sắc đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, gắn liền cuộc sống đạo và đời, thể hiện triết li thực tại của Phật giáo thông qua các Thiền Sư, danh tăng, cư sĩ, vua, quan và cả những trí thức nho sĩ. Tất cả những dữ kiện tiêu biểu, những giá trị đặc biệt, độc đáo của văn học thời Lý – Trần là những di sản cao quý của cha ông lúc nào cũng thiết tha với tiền đồ của dân tộc mà ta có thể tìm thấy và chia sẻ đôi điều. Đó là lý do và mục đích mà người viết muốn trình bày.

Thời đại Lý – Trần là thời đại phục hưng, đất nước được độc lập có chủ quyền, dân tộc được hồi sinh sau hơn một nghìn năm nô lệ phương Bắc. Văn học Phật giáo thời Li – Trần được sản sinh từ thời đại đó. Đây là giai đoạn đầu, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của văn học viết Việt Nam, trong đó văn học Phật giáo thời Lý – Trần đã đi tiên phong cho giai đoạn này với những thành tựu đáng kể. Dù Phật giáo Việt Nam có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Trung Hoa truyền sang và chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Phật giáo của hai nước này. Nhưng qua các triều đại Đinh, Lê, Li, Trần, Phật giáo Việt Nam đã thật sự cảm nhận được truyền thống tinh hoa của dân tộc được ấp ủ, tôi luyện từ hồn thiêng sông núi, đã có những cảm xúc, biểu tượng, tư tưởng, tình cảm, lẫn cái đẹp, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt đã làm nên một thời đại thi ca huy hoàng.

Ngày nay mỗi khi nói đến nhà Trần là nói đến những chiến công vang dội trước đoàn quân xâm lược hung hãn mà gót giày xâm lược đã dẫm nát đến các miền khác nhau trên toàn lục địa Âu, Á; cũng là nói về nghệ thuật lãnh đạo toàn dân kháng chiến của nhà Trần. Bên cạnh những chiến công vang dội về quân sự, thì văn hóa Đại Việt ở giai đoạn này cũng đạt đến trình độ khá cao, được coi là một trong những đĩnh cao của nền văn hóa Li – Trần, một nền văn hóa có cội nguồn từ buổi đầu của thời kỳ độc lập phát triển và đạt được nhiều thành tựu dưới thời Lý, đồng thời để lại dấu ấn sâu sắc cho đến hết đời Lê sơ. Văn hóa thời Trần là văn hóa của hào khí Đông A, văn hóa có quá trình phát triển gắn chặt với những chiến công hiển hách của dân tộc ta. Chính nền văn hóa đó đã tạo nên sức mạnh phi thường của dân tộc trước kẻ thù xâm lược. Và cũng chính nhờ sự phát triển này đã tạo nên một sắc thái riêng, đó là sự phát triển văn học Phật giáo thời Lý – Trần và những đóng góp đáng kể của Phật giáo trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, cũng như các thành tựu khác mà ảnh hưởng lớn lao của Phật giáo là điều không thể phủ nhận do tính lịch sử của nó ở giai đoạn này.

1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ THỜI LÝ TRẦN.

Sau khi nước ta được giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại xâm, giai cấp phong kiến nhanh chóng tiến hành xây dựng nhà nước Đại Việt. Buổi đầu dựng nước của một quốc gia non trẻ, sau nhiều năm bị ách đô hộ của giặc ngoại xâm, tat cả với tinh thần quý báu là tư tưởng yêu nước. Dân tộc Đại Việt đã phục khởi mạnh mẽ, hồi sinh những tiềm năng, làm thay đổi bộ mặt của đất nước. Về mặt phát triển thể hiện rất rõ qua các lĩnh vực kinh tế, nông, công, thương, nghiệp, hành chính quân sự.

Đặc biệt là tôn giáo, tuy tầng lớp vương quyền rất sùng thượng đạo Phật, nhưng họ không bài xích các tôn giáo khác. Nhìn chung  tất cả chỉ thể hiện sự quan tâm đúng mức và những chính sách phù hợp của bộ máy nhà nước đương thời. Vì lẽ đó, sau ngày giành được độc lập dân tộc ta đã chiến thắng quân Tống và ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông (một đế quốc hùng mạnh từng gồm thâu cả châu Á và một nửa châu Âu).

Về lĩnh vực tư tưởng các sử gia, các nhà nghiên cứu cho rằng: thời đại Li – Trần là thời “Tam giáo đồng nguyên”, có nghĩa là con người trong thời này dung hoà cả ba tư tưởng: Phật, Lão và Nho giáo. Sự dung hoà này đã tạo nên những nét riêng của đời sống tinh thần người Việt thời này. Tôn giáo đã góp phần tạo nên sự hài hoà của tư tưởng xã hội và tinh thần con người. Tư tưởng, Phật, Nho, Lão từ lâu đã tồn tại, ảnh hưởng đến đời sống văn hoá tinh thần, đến sự phát triển của xã hội Việt Nam.  Hình ảnh của tam giáo nói chung, Phật giáo đối với đời sống dân tộc nói riêng, đời sống văn chương không chỉ thể hiện con người Việt Nam trong quá khứ mà còn góp phần xây dựng con người Việt Nam hôm nay  và mai sau. Vì thế về cơ bản, xã hội thời Li – Trần là một xã hội “hoà giải, an lạc”, không đối kháng giai cấp, mọi người đoàn kết, gắn bó với nhau tạo thành một khối thống nhất, “Trong tình thân, trong tin tưởng” ca ngợi đất nước, thời đại, và làm nên một nền văn học của những “Tâm trạng cân đối, hài hoà mà thanh cao”. Mặt khác ta thấy hai triều đại Li – Trần đã ổn định kéo dài gần hơn 200 năm, phải chăng đường lối giữ nước và trị nước, dựa trên lòng từ của Phật giáo là đường lối trị nước và giữ nước hiệu quả nhất, như lời nhận định đầy minh triết của Lão Tử: “Phù từ,  dĩ chiến tắc thắng, dĩ thủ tắc cố…” (Ôi lòng từ, nếu chiến thì thắng, nếu giữ thì vững chắc…). Nó về cuộc chiến công hiển hách trước đội quân hùng mạnh của  Nguyên – Mông trong  thời Li  - Trần, Viện sử học Hà Nội có ghi :

 “Các cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo đã làm cho đất nước thân yêu của chúng ta nhiều lần xơ xác tiêu điều. Nhưng mỗi lần như vậy sức mạnh Việt Nam lại trỗi dậy chiến thắng và phục hồi mọi giá trị văn hoá tinh thần và vật chất, đưa dân tộc ta tiến lên kỳ diệu. Thời đại Lí – Trần là một trong những giai đoạn điển hình như vậy”.

                   Ta có thể nói tính nhân văn và tư tưởng chủ đạo trong văn học thời Li – Trần là triết lý sống của những con người lạc quan bình dị. Những mẫu người có khả năng nhận thức thế giới một cách rõ ràng, từ đó dễ dàng điều phục hoàn cảnh theo ý muốn của mình. Với tinh thần lạc quan, nhập thế, vô chấp của các Thiền sư đã vượt ra khỏi sự ràng buộc của những giáo điều cứng nhắc, vươn tới cuộc sống rõ biết thực tại và đề cao thực nghiệm. Mặt khác tuyên dương tính độc lập, tự tin, tự cường ở con người, khát vọng giải phóng con người một cách triệt để, ý thức về xã hội  lý tưởng, dung hòa giữa con người và cuộc sống, giữa con người và xã hội cộng đồng.

2.  SƠ LƯỢC TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

2.1. Trần Thái Tông – Tác phẩm Khoá Hư Lục

2.1.1. Sơ lược về tác giả

                   Trần Thái Tông ( 1218 – 1277) lên ngôi vua vào năm Ngài tám tuổi, từ đó về sau chỉ cư trú trong cung điện. Trong Thiền Tông Chỉ Nam cho biết vua say sưa nghiên cứu kinh Phật theo lời khuyên của Trúc Lâm quốc sư, và sớm hấp thụ tinh hoa giáo lí nhà Phật, lại kiêm thông thế học; vua rất sở trường về lối  văn biền ngẫu và những lời cảnh tỉnh cổ vũ của vua mang đầy màu sắc và hình ảnh thi ca:

“Một trời sáng đẹp, thôn thôn liễu biếc hoa hồng,

Muôn dặm phong quang, xứ xứ oanh ca bướm lượn”

“Thắp đuốc tuệ trên đường mê tăm tối,

Dong thuyền từ nơi bể khổ trầm luân”

Những nỗi khổ vui của cuộc đời, vua đã từng nếm trải bằng kinh nghiệm bản thân, nên khi phô diễn thi ca lời lẽ rất thống thiết.

Nhưng rồi việc gì đến sẽ đến … Vì muốn đảm bảo sự liên tục của ngôi vua trong một gia đình phong kiến, Trần Thủ Độ đã ép buộc Trần Thái Tông phải bỏ Lí Chiêu Hoàng để lấy người chị dâu của mình là Thuận Thiên Công Chúa lúc bấy giờ đang có mang ba tháng. Sở dĩ Trần Thủ Độ làm như vậy với mong muốn có con ngay để đảm bảo sự liên tục của dòng dõi gia đình thống trị. Đứng trước cảnh ngộ trớ trêu đầy ngang trái, nhà vua đã phản đối kịch liệt muốn chống lại sự áp đặt của Trần Thủ Độ nhưng không thể cưỡng được vì Trần Thủ Độ là người rất độc đoán lại có quá nhiều quyền uy. Thế rồi vào đêm mùng ba tháng tư năm 1236, nhà vua đã trốn triều đình, bỏ ngôi báu lên núi Yên Tử tìm đến chùa Hoa Yên với hy vọng tìm lẽ đạo nhiệm mầu hầu giải thoát cho mình và báo đáp thâm ân cha mẹ.

Trông thấy Trần Thái Tông, Quốc sư Trúc Lâm ung dung bảo: “Lão tăng ở chốn núi rừng đã lâu, xương cứng, mặt gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh rừng sâu, lòng nhẹ như mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị của một bậc quân vương, chẳng hay muốn tìm vật gì mà lặn lội đến đây?”

Vua đáp: “Trẫm còn thơ ấu, sớm mất mẹ cha, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không nơi nương tựa. Lại nghĩ đến sự nghiệp của Tiên đế đời trước hưng phế bất thường cho nên Trẫm mới tìm đến đây để cầu thành Phật, chớ chẳng mong gì khác”.

Quốc sư Trúc Lâm bảo: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm ta. Nếu tâm thanh tịnh thì trí tuệ hiển bày, đó chính là Phật, khỏi phải cất công tìm kiếm ở bên ngoài”.

Nghe Quốc sư nói, nhà vua bàng hoàng xúc động, biểu lộ sự tán thành. Trần Thủ Độ hay tin vua rời bỏ kinh thành, bèn dẫn quan quân và các bô lão tìm kiếm khắp nơi, lần lên núi Yên Tử.

Thấy vua, Trần Thủ Độ thống thiết nói: “Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm mồ còn chưa ráo, lời dặn dò còn vang vọng bên tai, thế mà bệ hạ lại lánh vào chốn núi rừng để cầu thỏa chí cho riêng mình. Tôi thiết nghĩ, bệ hạ vì lo tu thân mà làm như vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ chỉ muốn cho người đời sau khen suông thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đường cho thiên hạ?”.

Ra sức thuyết phục một hồi nhưng nhà vua vẫn nhất quyết không nghe, Trần Thủ Độ cũng cương quyết: “Nếu bệ hạ không nghĩ lại, chúng tôi cùng quần thần nguyện cùng chết cả tại đây”. Rồi ông tuyên bố: “Vua ở đâu thì lập triều đình ở đó”.

Thấy tình thế khó xử, Quốc sư Trúc Lâm ân cần cầm tay vua nói: “Phàm làm vua thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về kinh, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên, việc nghiên cứu tu tập theo kinh Phật, xin bệ hạ đừng quên”.

Như vậy, Quốc sư đã vạch cho Trần Thái Tông một phương châm hành động đạo đời dung hợp. Vua lại là người có ý chí khác thường, đã biến đau thương thành hành động và đã hoàn thành xuất sắc cả hai trách nhiệm nặng nề ngay giữa lòng nhân thế vốn quá nhiều đau khổ này. Có thể nói, Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của Việt Nam đã hoàn thiện cả hai mặt “đời đạo lưỡng toàn”, mở ra hướng đi cho Phật giáo Việt Nam. Trần Thái Tông trị vì thiên hạ khoảng 32 năm rồi nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông và lên làm Thái Thượng Hoàng. Sau khi nhường ngôi, Ngài dành nhiều thời gian cho công phu thiền tọa. Vua mất vào năm 60 tuổi và làm Thái Thượng Hoàng được 20 năm. Những tác phẩm nhà vua để lại cho đời như: Thiền Tông Chỉ Nam, Khóa Hư Lục, Kim Cương Tam Muội kinh chú giải, Thi tập nêu rõ yếu chỉ của Phật giáo là Giới, Định, Tuệ.

 2.1.2. Tác phẩm Khoá Hư Lục

Tác phẩm Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông được hội Phật giáo Bắc kỳ ấn hành tại Hà Nội năm 1943 với sự bảo trợ của trường Viễn Đông Bác Cổ gồm có quyển thượng và quyển hạ. Khóa Hư Lục là tác phẩm nổi tiếng của vua Trần Thái Tông là một tác phẩm có giá trị lớn về Thiền học và văn học, nên từ trước, một số các vị Thiền sư như Tuệ Tĩnh (thế kỷ XVII), Phúc Điền (thế kỷ XIX) đã dịch ra chữ Nôm. Khi chữ Quốc ngữ trở nên thông dụng và phổ biến, Khóa Hư Lục đã được học giới nước ta chú ý nghiên cứu, dịch thuật. Hiện có được 4 bản dịch sách Khóa Hư Lục, ra đời theo thứ tự thời gian như sau:

- Thiều Chửu (dịch),  Khóa Hư Lục, nxb Hưng Long, 1961.

- Nguyễn Đăng Thục (dịch),  Khóa Hư Lục, nxb Khuông Việt.

- Đào Duy Anh (dịch),  Khóa Hư Lục, nxb Khoa Học Xã Hội, 1974.

- Sa Môn Thích Thanh Kiểm (dịch), Khóa Hư Lục, Thành Hội PG. TP.HCM, 1992.

Về bộ sách Khóa Hư Lục, Trần Văn Giáp trong Bulletinde Société des Etudes Indochinoises, Nouvelle série TXIII n. 1, 1938 ở mục truyện ký loại có viết như sau:

 

"Tác phẩm do Trần Thái Tông viết về sự chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của thiên nhiên và về vấn đề sống chết. Sách viết vào thời kỳ Trần Thái Tông nhường ngôi để chuyên sâu vào học tập Thiền”

Nội dung tác phẩm Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông mang tính triết lí giải thoát, hướng dẫn mọi người thiền tọa để đạt đến cứu cánh giải thoát, vì với tư cách là một Thiền sư, một nhà Phật học, “Không sách Phật nào không đọc”, chắc hẳn nhà vua rất am tường mọi phương pháp điều thân và điều tâm.

Các phương pháp điều thân và điều tâm có thể áp dụng tùy theo cá tính và môi trường sống của từng người. Thế nhưng, mục đích đạt tới không phải là hướng ngoại mà là hướng nội, tức là hướng vào nội tâm, chuyển hóa nội tâm từ trạng thái tán loạn đến định tỉnh, từ chỗ chạy theo dục vọng, ngoại cảnh chuyển sang trạng thái bất động nhưng sáng suốt. Một người hiểu biết và điều phục tâm như thế phải là người có một ý chí vượt bậc, một loại ý chí chiến thắng được chính mình.

“- Thắng ngàn quân địch chưa thể gọi là thắng, tự thắng được mình mới là chiến công oanh liệt nhất”. (Kinh Pháp Cú- câu 103).

Khi vua bỏ cả triều chính lánh lên núi Yên Tử để cầu Phật, Quốc sư Trúc Lâm đã khuyên rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm ta” và được nối tiếp bằng các câu thơ phú Nôm của Trần Nhân Tông trong bài “Cư Trần Lạc Đạo”.

“Bụt ở trong nhà,

Chẳng phải tìm xa.

Nhân khuẩy bổn,

Nên ta tìm Bụt.

Đến mới hay,

Chính Bụt là ta”.

Tư tưởng này là cốt lõi của Phật giáo Việt Nam, chớ không phải chỉ là sản phẩm đặc sắc của thời Trần. Điều này đã được minh chứng bằng các câu thơ của Thiền sư Khuông Việt đời Đinh và Tiền Lê.

“Mộc trung nguyên hữu hỏa,

Nguyên hỏa phục hoàn sinh,

Nhược vị mộc vô hỏa,

Toản tại hà do manh”.

“Trong cây vốn có lửa,

Tia lửa mới phát ra.

Bằng bảo cây không lửa,

Mài cọ cớ sao lòe”.

Lửa ví với chân lí, với cái mầm giác ngộ là Phật tánh vốn có sẵn trong mọi người.

Hay là các câu thơ của Nguyễn Nguyên Học thời Lí:

        “Đạo không hình bóng,

Trước mắt đâu xa.

Quay lại tìm nơi mình,

Chớ tìm chốn khác…”

và cả trong văn học dân gian, tư tưởng đó vẫn còn vang vọng: “Bụt ở trong nhà không cầu, lại cầu Thích Ca ngoài đường”.

                   Rõ ràng Phật, chân lí vốn nằm ngay trong nội tâm mỗi người, lại tìm ở bên ngoài làm sao có được. Trong suốt tác phẩm Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông luôn nhắc lại tư tưởng này như một điệp khúc: “Hãy quay đầu lại, nhìn vào bên trong nội tâm mình, thì sẽ thấy tánh thành Phật” -(Bài văn khuyến pháp tâm Bồ đề – Khóa Hư Lục).

                   2.2. Tuệ Trung Thượng Sĩ – Tác phẩm Phật Tâm Ca

2.21. Sơ lược về tác giả

Theo Trần Nhân Tông viết trong Thượng Sĩ Hành Trạng thì thân thế của Thượng Sĩ như sau:

Thượng Sĩ là con thứ nhất của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương, anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu. Nguyên khi Thái Vương mất, Thái Tông Hoàng Đế cảm nghĩa phong làm Hưng Ninh Vương. Như vậy Tuệ Trung là con đầu của An Sinh Vương Trần Liễu và anh cả Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Chiêu Cảm và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Tên thật của Ngài là Trần Tung sinh năm 1230 và mất 1291”.

Tuệ Trung Thượng Sĩ là tướng đời Trần, sống đời sống gia đình, đắc pháp với Thiền sư Tiêu Diêu, ve sau là bậc thầy dạy đạo Thiền cho Vua Trần Nhân Tông. Qua TueTrung Thượng Sĩ Ngữ Lục, ta thấy ngôn ngữ của Ngài siêu việt, đã thể hiện sự chứng đắc về thiền định và trí tuệ giải thoát. Cuộc đời dung tục, tích cực, phóng khoáng của Thượng Sĩ là biểu hiện của một tâm hồn giác ngộ vô ngã tướng. Sở đắc, sở chứng đã được truyền thụ qua Trần Nhân Tông. Tên tuổi của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử tư tưởng Thiền học Trúc Lâm. Tuệ Trung Thượng Sĩ  góp công lớn trong cuộc đối kháng quân Nguyên. Trọng tâm tư tưởng của ngài là “Hoà quang đồng trần”, là sống vô nhiễm cuộc đời như hoa sen, tuỳ duyên bất biến. Trong khi dạy đạo cho môn đồ, Ngài thường đánh mạnh vào cái tâm cố chấp vào danh tướng của các đệ tử, hãy thoát cho được tư tưởng nhị nguyên là giải thoát tức thì. Khi sắp qua đời, thê thiếp khóc, Ngài mở mắt quở họ rằng: “Đừng làm rầy việc ta đi, rồi yên tịnh hoá một cách an nhiên tự tại”. 

2.2.2. Tác phẩm Phật Tâm Ca

Tác phẩm Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ là tác phẩm văn học thiền viết theo thể Ca. một hình thức sáng tác chỉ xuất hiện trong các sáng tác của các Thiền gia, vào thời Lý thì hầu như không có. Theo tịch cổ, thơ văn Thiền phái chỉ lưu lại hai thể văn được sáng tác theo thể loại này. Đó là Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ viết bằng chữ Hán và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông viết bằng chữ Nôm. Tác phẩm Phật Tâm Ca bao gồm 12 khổ, 55 câu. Khổ đầu gồm tám câu thất ngôn xen lục ngôn: “Phật, Phật, Phật, bất khả kiến; Tâm, Tâm, Tâm, bất khả tư thuyết”; mười một khổ còn lại, mỗi khổ năm câu. Câu một và hai mỗi câu ba, ba câu còn lại mỗi câu bảy. Điều đặc biệt là mỗi khổ ở đây là một bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn, và câu đầu chính là câu lục ngôn được chia làm hai. Vần gieo ở cuối câu đa số là vần trắc, có khoảng tám trên mười hai khổ gieo vần trắc. Chỉ có bốn khổ gieo vần bằng. Ta thấy rõ ràng số câu trong bài không hạn định, không bị đóng khung trong niêm luật, vần điệu. Bởi nó là sự giải thoát trong chiều hướng khai mở tâm thức và bừng sáng trí tuệ. Như thế tác phẩm Phật Tâm Ca không chỉ có giá trị về nội dung tư tưởng thiền học mà còn mang tính đặc sắc âm vang nghệ thuật Thiền tông và triết lí giác ngộ giải thoát. Về tư tưởng Thiền, tất cả thi tụng của Tuệ Trung Thượng Sĩ, hầu như bài nào cũng toát lên tư tưởng này. Qua 49 bài tụng trong Ngữ Lục, ngay bài “Khúc Ca  Tâm Phật”, Bài số 1 đã viết:

“… Đi cũng thiền,

Ngồi cũng thiền.

Giữa lò lữa rực một cành sen,

Ý khí mất đi thêm ý khí.

Được an tiện đấy cứ tiện an…”

                                                                                                          (Trúc Thiên dịch)

Bài 2: “Khúc hát ngao”, có ghi:

“… Qui sơn láng giềng hề chăn con trâu nước,

Tạ Tam tâm ý hề trổi khúc thương lang.

Thăm Tào Khê hề ra mắt Lư Thị,

Viếng Thạch Đầu hề sánh vế Lão Bàng.

Vui ta vui hề Bố Đại vui sướng,

Điên ta điên hề Phổ Hóa điên gàn... »

                                                                                                                   (Trúc Thiên dịch)

Bài 3: “Sống chết nhàn thôi vậy”, có ghi:

“…Thanh Văn ngồi thiền ta không ngồi,

Bồ tát nói pháp ta nói thực…”

                                                                                                                   (Trúc Thiên dịch)

Qua các bài thi tụng của Thượng Sĩ, ta thấy toát lên tư tưởng Phật học nói chung, Thiền học nói riêng. Về phương pháp tọa thiền, Thượng Sĩ không gò bó theo phép tĩnh tọa của Thiền gia mà đi, đứng, nằm, ngồi cũng đều Thiền. “Đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền” - (Phật Tâm Ca). “Thanh Văn ngồi thiền ta không ngồi” - (Sinh tử nhàn nhi dĩ).

Nhìn chung, từ con người đến tư tưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ tràn đầy chất Thiền. Bởi thế, Ngài quả xứng đáng là bậc Thầy của các Thiền sư Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm nói chung, Trúc Lâm Đại Đầu Đà nói riêng và Trúc Lâm Đại Đầu Đà đã có kệ tán thán Thượng Sĩ:

“Ngóng càng cao thêm,

Xoi càng thêm bền.

Bỗng sau lưng đó,

Xem lại trước liền.

Đó là Thượng Sĩ,

Vậy mới là Thiền”.

                                                                                      (Trúc Thiên dịch)

2.3. Trần Nhân Tông – Tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo

2.3.1. Sơ lược về tác giả

                   Trần Nhân Tông còn gọi là Trúc Lâm Đầu Đà hay Điều Ngự Giác Hoàng, tên tục là Trầm Khâm, con của vua Trần Thánh Tông. Trần Nhân Tông học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ  là một Thiền sư đại triệt, đại ngộ. Tuệ Trung đã dạy cho Trần Nhân Tông một câu “Phản quang tự kỷ vi bổn phận – Nghĩa là hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt nó từ một ai ngoài mình”. Khai thị ấy đã khiến cho Nhân Tông bừng ngộ. Từ đó, dù đang bận trăm công ngàn việc nơi triều chính nhưng tâm của Ngài là tâm xuất gia thanh thoát.

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang thì Trần Nhân Tông sinh năm 1258 và mất năm 1308, ngài lên ngôi vua lúc 20 tuổi, xuất gia năm 41 tuổi và ngài hưởng thế được 51 tuổi. Trong thời gian làm vua, Trần Nhân Tông và các danh tướng nhà Trần đã hai lần đại phá quân Nguyên – Mông. Sự kiện trọng đại này trong viện sử học Hà Nội có ghi:

“ Sự kiện trọng đại này đã làm cho nhiều nhà sử học tiến bộ trên thế giới khi nghiên cứu về Việt Nam mong muốn làm sáng tỏ nguồn gốc nảy sinh ra chiến công lừng lẫy đó, tức là tìm xem ra nó đã nảy sinh trên cơ sở kinh tế, xã hội nào? Nó là san phẩm của một cuộc sống tinh thần, vật chất như thế nào ?”.

          Với lời nhận định trên, nếu cho rằng sức mạnh chiến thắng quân Nguyên – Mông trong triều đại Li – Trần là sức mạnh vật chất, thì sao nhiều nước hùng mạnh về vật chất như châu Âu và nhà Tống ở Trung Hoa mà vẫn thảm bại trước quân Nguyên – Mông ?. Mặt khác nếu nói sức mạnh đó là sức mạnh của Nho, Lão thì đó là sức mạnh đích thực của nhà Tống nhưng lại thảm bại trước quân Nguyên – Mông? Sau đây là lời nhận định vô cùng thuyết phục của Hòa Thượng Thích Chơn Thiện như sau:

 “Kết luận sau cùng về yếu tố quyết định chiến thắng quân Nguyên – Mông thời Trần phải là sức mạnh tinh thần của Phật giáo Việt Nam. Hẳn nhiên là sức mạnh tinh thần ấy đi đôi với sức mạnh tinh thần dân tộc, cộng với sức mạnh của quốc phòng và kinh tế của xã hội”.

Những chiến công vẻ vang đó chúng ta phải thừa nhận rằng công lao to lớn nhất trong thời Trần là nhờ sự chỉ đạo anh minh, chính trị lỗi lac của Điều Ngự Giác Hoàng. Ngài đã đem lại sự hoà bình và thịnh trị cho dân tộc. Trong Thơ văn Lí - Trần, tập II ghi nhận Ngài là:

 “Nhà văn hoá lớn, nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XIII. Ông đã sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm ở Việt Nam, đáp ứng mọi nhu cầu sinh hoạt của người Việt đương thời, mặt khác cũng góp phần vào xây dựng nước Đại Việt có quy mô bề thế, có văn hoá độc lập, chống lại những ngoại lai, phi dân tộc”.

Sau khi Trần Nhân Tông đã hoàn tất sự nghiệp làm vua trị vì thiên hạ. Ngài liền nhường ngôi vua lại cho con là Trần Anh Tông và đi xuất gia tại Chùa Hoa Yên Núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà. Về sau đổi hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà. Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Trúc Lâm Yên Tử, thế hệ thứ sáu tiếp nối vị Tổ thứ năm là Thiền sư Huệ Tuệ. Từ đó trở đi, phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân gian. Ngài đã gây tiếng vang trong khắp nhân dân, khiến tất cả mọi người trong nước đều hướng về Núi Yên Tử và đạo Phật trở thành yếu tố liên kết toàn dân cùng có chung mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia.

                   2.3.2. Vua Trần Nhân Tông và tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo

Vua Trần Nhân Tông xuất gia không lâu, đã đổi tên phái Thiền Yên Tử thành phái Thiền Trúc Lâm; nhưng ông vẫn tự xem mình là Tổ thứ sáu của phái Thiền Yên Tử sau Tổ thứ năm là Huệ Tuệ.

Có thể nói, việc đổi tên một phái Thiền không phải là việc làm ngẫu hứng, rõ ràng Vua Trần Nhân Tông khi sáng lập phái Thiền Trúc Lâm, người muốn khai sáng một cái gì mới cho đạo Phật Việt Nam.

          Vậy cái mới đó là gì?

Qua ba lần chống quân Nguyên – Mông thắng lợi, Trần Nhân Tông thấm thía sâu sắc nguy cơ chực chờ của ngoại xâm từ phương Bắc đến; đồng thời cũng tin tưởng sâu sắc rằng: dân tộc Việt Nam nếu một lòng đoàn kết từ vua, quan đến dân đều quyết tâm đánh giặc, giữ gìn bờ cõi, thì quân giặc cho dù có mạnh và hung hãn đến đâu cũng phải thua. Trần Nhân Tông đã tìm thấy trong đạo Phật có nhiều yếu tố tích cực, có thể tăng cường sự đòan kết toàn dân và đặc biệt là củng cố nền “đạo đức xã hội” là yếu tố không thể thiếu của một xã hội lành mạnh, phồn vinh. Một xã hội mà nền đạo đức băng hoại, suy đồi thì sớm muộn sẽ bị tan rã và ngoại xâm dễ dàng kết liễu vận mệnh của xã hội đó là lẽ tất nhiên.

Đây là lý do vì sao Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã chu du khắp nơi trong nước giảng giải về đạo đức “Mười điều thiện” của đạo Phật. Đó là cái mới thứ nhất của phái thiền Trúc Lâm, tức là phổ biến khắp nơi trong dân gian về đạo đức “Thập thiện” của Phật giáo.

Không những nhà vua đích thân đi khắp nơi giảng thuyết “Thập thiện”, mà bản thân nhà vua, đặc biệt là sau khi xuất gia, Ngài đã sống rất mực đạo hạnh, giản dị và trong sáng, khó có thể tìm thấy ở bất cứ một ông vua nào khác.

Giờ đây chúng ta hãy thưởng thức bài thơ “Trăng” của Trần Nhân Tông, sẽ thấy rõ nếp sống của một ông vua vào ban đêm that giản dị và trong sáng đến dường nào:

“ Đèn song chếch bóng sách đầy giường,

Đêm vắng sân thu lác đác sương.

Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết,

Trên cành hoa Quế nguyệt lồng gương”.

                                                                   (Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng trang 465)

Đọc qua bài thơ ta hình dung một cảnh ban đêm làm việc, đọc sách của một ông vua giống như là một thư sinh nghèo. Vì không có cung tần, mỹ nữ, kẻ hầu người hạ, nơi ở của vua rất giản dị nên khí lạnh của đêm thu thấm vào phòng, đánh thức nhà vua lắng nghe ở đâu đó tiếng chày đập vải của nhà dân.

Sau khi xuất gia, nếp sống của vua vô cùng giản dị. Điều này ta thấy rõ trong bài phú Nôm: “Cư Trần Lạc Đạo”, với các câu như:

“Ăn rau, ăn trai, miệng chẳng hiềm đắng,

Vận giấy, vận sồi, thân ngại chi đen bạc”

                                                                   (Chương 2, các câu 25, 26, 27, 28)

Tự mình sống đời đạo đức, đồng thời hô hào vận động dân chúng khắp nơi sống đời “Thập thiện” của Phật giáo. Nhà vua thật sự muốn xây dựng một xã hội Việt Nam lấy đạo đức Phật giáo làm nền tảng.

Việc thứ hai mà Trần Nhân Tông làm là chuẩn bị mọi điều kiện để cho Giáo hội Trúc Lâm được trở thành một tổ chức vững mạnh, vừa được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Muốn vậy, phải tập hợp cho được những tăng tài thực học, có giới đức, xứng đáng làm đội ngũ kế thừa sau này.

Sử chép rằng: Cuối năm 1304, Vua Anh Tông đã thỉnh Điều Ngự (khi xuất gia, Trần Nhân Tông có pháp hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng) về kinh, và xin thụ Bồ tát giới. Noi gương vua, các vương tôn công tử và các quan trong triều cũng phát nguyện thụ trì Tam quy, Ngũ giới. Như thế là cả một triều đình vua, quan, đều quy đầu Phật giáo. Đó là chỗ dựa vững chắc cho Thiền phái Trúc Lâm ngày càng phát triển. Muốn củng cố Giáo hội, Trần Nhân Tông lo chọn người kế vị để làm Tổ thứ hai của phái Thiền mới. Năm 1304, Vua gặp một chàng trai trẻ mới 21 tuổi tên là Đồng Kiên Cương, tức Pháp Loa mà sau này Điều ngự Giác Hoàng đã tổ chức truyền y bát trong một buổi lễ long trọng tại chùa Siêu Loại, có cả vua, quan tham dự. Cần nhắc lại rằng: Trần Nhân Tông là khởi Tổ của phái Thiền Trúc Lâm, nhưng cũng tự xem mình là Tổ thứ sáu của phái Thiền Yên Tử và khi xuất gia vua đã thụ giới ở Thiền sư Huệ Tuệ là Tổ thứ năm của phái Thiền Yên Tư. Quốc sư Viên Chứng là Tổ thứ hai của phái Thiền Yên Tử đã từng nói với Trần Thái Tông là:

"Trong núi không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng thanh thản đó chính là chân Phật…." Ngài lại nói tiếp: "Nếu quay nhìn lại thì sẽ thấy được bản tính (kiến tánh) thành Phật…”.

Phật giáo đời Trần với những người lãnh đạo đất nước như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông; với một số văn võ bá quan đều sùng tín đạo Phật, hiểu sâu đạo Phật chính là loại Phật giáo "hướng nội""biện tâm". Ngoài những người nói trên, nhân dân hưởng ứng Phật giáo không phải là ít. Chính thứ Phật giáo ấy đã đảm bảo cho họ một đời sống nội tâm rất phong phú; do đó khiến Trần Thái Tông tuyên bố: "Ta trút bỏ ngai vàng như trút bỏ chiếc giày rách", khiến tướng Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên bắt, dụ dỗ, đã thét vào mặt chúng: "Ta thà làm qui nước Nam hơn là làm Vương đất Bắc!", khiến Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt giữa đường, bị quân của Trần Hưng Đạo quát đuổi, đâm giáo vào bắp đùi nhưng vẫn ngồi yên bất động…

Trần Nhân Tông, vị vua anh hùng đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai và thứ ba đại thắng, chắc chắn cũng được trang bị với một tư tưởng Thiền như thế, cho nên người luôn luôn sống hồn nhiên tự tại, sống giữa cảnh trần mà vẫn an vui với đạo (Cư Trần Lạc Đạo), làm vua đạt tới đỉnh vinh quang nhất, nhưng vẫn nhẹ nhàng từ bỏ ngôi

vua, xuất gia tu đạo, làm thủy Tổ của phái Thiền Trúc Lâm, với nếp sống đạm bạc, giản dị, không gia đình của người tu hành.

Ngài là Thiền sư nhưng lại tuyên bố không cần đến Thiền:

"Trong nhà sẵn ngọc thôi tìm kiếm,

Lặng lòng đối cảnh, hỏi chi Thiền."

                                                                                                          (Cư Trần Lạc Đạo)

Ngài khuyến cáo mọi người hãy nhận chân lấy con người thật của chính mình, bộ mặt thật của chính mình, không phải tìm đâu xa nữa:

"Bụt ở trong nhà,

Chẳng phải tìm xa,

Nhân khuẩy bổn,

Nên ta tìm Bụt.

Chỉn mới hay,

Chính Bụt là ta"

                                                                                                          (Cư Trần Lạc Đạo)

Chính mấy câu đó là cốt lõi, là tinh túy tư tưởng Thiền học của phái Thiền Trúc Lâm, của Phật giáo đời Trần, và cũng có thể nói của toàn Phật giáo Việt Nam. Một tư tưởng "Phật tại tâm" thật sự lạc quan, đề cao vinh quang của con người lên đến tột bậc, đến địa vị Phật, và cũng là cơ sở lý luận hình thành chủ thuyết "Cư Trần Lạc Đạo" của Thiền phái Trúc Lâm:

"Cư Trần Lạc Đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền".

Dịch thơ:

"Sống đời vui đạo hãy tùy duyên,

Hễ đói thì ăn, nhọc ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền?"

                                                                                                                   (Cư Trần Lạc Đạo)

          2.3. NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CĂN BẢN THÔNG QUA TÁC PHẨM KHOÁ HƯ LỤC– PHẬT TÂM CA      TRẦN LẠC ĐẠO

Có thể nói giá trị nội dung tư tưởng trong văn học Phật giáo thời Li – Trần bao gồm rất nhiều lĩnh vực sâu rộng khác nhau, nhưng không ngoài mục đích và lý tưởng là phục vụ đạo pháp, dân tộc. Người viết không thể nào trình bày từng khía cạnh xuyên suốt trong hai triều đại thời Li – Trần. Do đó chỉ trình bày những con người mang tính đặc trưng nhất và có sự cống hiến to lớn đối với đạo pháp và dân tộc. Sau đây người viết sẽ trình bày thông qua ba tác phẩm được nêu trên.

2.3.1. Con người hiếu nghĩa nhân ái rộng mở

                   Có thể nói rằng Khoá Hư Lục là một tác phẩm văn học Phật giáo thời Li – Trần đã thể hiện về triết lý cuộc sống nhân sinh, là một trong những tác phẩm mang đậm net về Thiền tông được tuôn chảy trong dòng mạch văn học trung đại Việt Nam. Dù chúng ta nhìn dưới góc độ nào đi nữa, Thiền học hay triết li cuộc sống …thì cũng thể hiện được đầy đủ phẩm chất của nó. Những đặc trưng nổi bật của văn học trung đại là thể hiện tấm lòng, như Trần Đình Sử đã nhận định:

 “Con người trong văn học cổ điển ưu thế thuộc về tấm lòng, con người của chí khí. Việc tỏ lòng chí khí là nét đặc trưng của họ”.

Ta thấy tinh thần hiếu nghĩa, nhân ái rộng mở của Trần Thái Tông qua Khoá Hư Lục kể từ khi tiếp nhận lời khuyên của Quốc sư Viên Chứng: “Phàm làm bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ là ý muốn của mình” (Thiền tông chỉ nam). Có thể nói đây là một quan điểm mới về hình ảnh con người để xác định chân giá trị thật của nó. Về mặt nhận thức luận, mọi người trong xã hội đều phải sống thể hiện tấm lòng theo ý muốn chung của mọi người. Đặc biệt, đối với các bậc nguyên thủ quốc gia lại càng phải thể hiện tấm lòng kiên định trong việc lãnh đạo đất nước. Muốn được như thế thì con người phải biết sống hoà hợp, phải thể hiện tinh thần theo đạo lý. Khoá Hư Lục đã thổi vào dòng văn học trung đại một luồng sinh khí mới. Giúp con người có sự biến chuyển nội tâm từ những hành vi bất thiện đến sự thăng hoa trong cuộc sống.

Với lòng hiếu nghĩa nhân ái rộng mở của Trần Thái Tông ta thấy rất rõ trong lời tựa cuả Khoá Hư Lục như sau:

 “Trẫm muốn ra ngoài chơi, nghe trộm lời dân để xem nguyện vọng của chúng, họa may biết được khó nhọc của họ… Khi đã qua sông Nhị, liền hướng phía Đông mà tiến, mới thật tình bảo cho tả hữu biết… Họ kinh ngạc đến ứa nước mắt khóc”. Trong Thiền tông chỉ nam có đoạn nói lên tinh thần hiếu nghĩa vô cùng sâu sắc xuất phát từ tận đáy lòng của Ngài làm cho người đọc phải rung động và xúc cảm trước lời phát biểu ấy:

 “Trẫm nghĩ công ơn cha mẹ đối với con, nuôi nấng vỗ về, chăm sóc đủ thứ; dù có thân nát xương tan cũng chưa đủ để báo đền công ân đó trong muôn một. Hơn nữa, Trẫm nghĩ Thái Tổ Hoàng đế, rất gian nan mở nền dựng nghiệp, rất quan trọng việc trị nước giúp đời, đem đại khí trao cho Trẫm khi còn thơ dại, ngày đêm nơm nớp lo sợ, đứng ngồi không yên. Trẫm tự nhủ rằng: Trên đã không cha mẹ để nương nhờ, dưới sợ chẳng đủ đáp lòng mong ngóng của lê dân, vậy biết làm sao đây ? Trẫm tự nghĩ: Chi bằng hãy lui về chốn núi rừng, tìm hiểu Phật pháp, để tỏ rõ việc lớn sinh tử, để báo đáp đức cù lao, chẳng cũng tốt lắm sao!”

Khi nói về lòng hiếu nghĩa và nhân ái của Trần Nhân Tông thì Ngô Sĩ Liên có lời nhận định như sau: “Nhân Tông trên thì thờ Từ Cung để tỏ đạo hiếu, dưới thì dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải là bậc nhân minh anh vũ thì sao được như thế”. Với tinh thần hiếu nghĩa sâu sắc của Trần Nhân Tông ta thấy rất rõ thông qua tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo. Ngài đã thể hiện tinh thần nhớ ơn đức Phật, các bậc Tổ sư, xót thương cha mẹ, kính thầy trọng bạn trọn vẹn triệt để:

“Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo;

Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cấm giới ăn chay.

Cảm  đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận;

Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.

Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo;

Miệng lòng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thời cũng chửa hết ngay”

(Cư Trần Lạc Đạo – hội thứ bảy)

    “…Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, thi đỗ mới trượng phu trung hiếu.

    Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;

    Học đạo thầy, dọt xương óc chưa thông của báu”

                                                (Cư Trần Lạc Đạo  – hội thứ sáu)

2.3.2. Nêu Cao Tinh Thần Giác Ngộ Giải  Thoát

Toàn bộ nội dung của Khoá Hư Lục mục tiêu là hướng con người đến giác ngộ và giải thoát. Trần Thái Tông đã tự xem mình phải có trách nhiệm với Phật giáo và đồng thời có trọng trách đối với hậu thế để cho nền giáo lý được truyền bá rộng rãi. Trần Thái Tông cũng đã nêu rõ quan điểm của mình trong Thiền tông chỉ nam và Kim cương tam muội chú giải có đoạn như sau: “Không riêng để chỉ ra lỗi mê cho đời sau, mà còn muốn tiếp mở mang công nghiệp của các thánh nhân thuở trước”.

Các nhà học Phật đời Trần đều quan tâm và đề cập đến sự bình đẳng và giác ngộ của mọi người. Tất cả mọi người đều có khả năng để giác ngộ và giải thoát. Nhưng khả năng giác ngộ của con người trong cuộc sống này khó mà thực hiện được theo ý muốn của mình. Vì cuộc sống có lắm điều phức tạp, có biết bao thú vui giả tạm chực chờ lôi cuốn mà ta khó điều phục. Do đó tinh thần “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”cực kỳ quan trọng đối với tất cả những hành giả tu học Phật pháp.

Về nghi thức sám hối trong Khoá Hư Lục, nói lên sự tác động chuyển đổi tâm ý, từ rong ruổi theo sáu trần, đi đến sự tỉnh thức và cuối cùng là loại trừ các phiền não, mê lầm. Cứ như thế, trải qua sáu thời khoá trong mỗi ngày đêm, con người luôn tĩnh giác qua giáo lý vô thường, khổ, không, vô ngã của Phật dạy. Lại nữa, lễ sám ở đây không phải là lễ sám trước Đức Phật thờ tự trong mỗi ngôi chùa, mỗi gia đường tôn nghiêm, mà thực sự lễ bái sám hối bản thân mình, tức là Phật ở tại tâm. “Phật thân tức ngã thân” và lễ Phật ở đây “Lễ pháp thân vô tướng chi lễ”, nghĩa là lễ chân lý cuộc đời theo như Lục thời sám hối khoa nghi diễn đạt. Mặt khác, ta thấy Lục thời sám hối khoa nghi kết hợp với Giới, Định, Tuệ. Một khi hành giả đã thông đạt và hành trì được hai điều cốt lõi này thì sáng tỏ được nguồn tâm, tuệ giác sẽ bừng khởi là lúc hành giả thấy rõ được thật tướng các pháp. Công dụng của lễ sám là không thể nghĩ bàn như Kinh Đại Tập nói: “Như chiếc áo dơ bẩn trăm năm, có thể giặt sạch trong một ngày”(Khoá Hư Lục). Thông qua tất cả nội dung trong Khoá Hư Lục, Trần Thái Tông đã chủ trương và cung cấp cho con người một lý tưởng, một lẽ sống không chỉ cho một thế hệ, một kiếp sống mà còn nhiều thế hệ nhiều kiếp sống khác, cho đến khi mỗi người đều trở thành một vị Phật. Thành Phật ở đây không có gì khác là nhận chân con người thật của mình. Khi mà con người chấp nhận Phật tại tâm thì cũng có thể hiểu việc tìm Phật là tìm lại bản tâm của chính mình. Với một tinh thần đặc trưng thiền học, Trần Thái Tông đã vận dụng tư tưởng Phật giáo Thiền tông trong việc chuyển hoá tâm thức con người. Trong Văn Khuyến Phát Tâm Bồ Đề có nói:

Khổng Tử nói: “Buổi sớm được nghe đạo, chiều có chết cũng vui”. Lão Tử nói: “Ta sở dĩ có ba cái lo lớn, là vì ta có thân”. Đức Thế Tôn khi cầu đạo thì bỏ thân cứu hổ. Há chẳng phải đều là chỗ khinh thân trọng đạo của ba bậc thánh nhân đó sao? Hãy nghe theo lời ấy, nên cham lo tu học, chớ có nghi ngờ. Trong kinh nói: “Một khi mất thân người, muôn kiếp khó trở lại”. Thật đau đớn xiết bao !” (Khoá Hư Lục).

Nếu mục đích cuối cùng của Khoá Hư Lục là xây dựng một con người Đại Việt độc lập tự chủ cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời giải thoát giác ngộ ngay giữa kiếp sống này thì Phật Tâm Ca của Tuệ Trung và Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông cũng không ngoài mục đích ấy.  Với tâm chứng ngộ giải thoát siêu phàm của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã hát ca giữa trần thế Phật với ta chẳng có gì khác trong thực tại cuộc sống. Cuộc sống thì luôn vận hành thay đổi, tâm lí con người cũng luôn vận hành. Còn vấn đề được nêu ra là thực tại luôn mầu nhiệm: “Phật! Phật! Phật!Không thể thấy, Tâm !Tâm ! Tâm không thể nói” (Phật tâm ca). Có thể nói đây là một công án thiền bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, không thể dùng văn tự ngôn ngữ diễn đạt cho thấu đáo được. Rõ ràng, con người giác ngộ là con người tìm lại chính mình bởi Phật và chúng sanh không khác. Tự vô thỉ đến nay, Phật và chúng sanh đồng có chung một bản thể vắng lặng, nhưng vì chúng sanh quên mất chân tâm của mình để cho sáu căn duyên theo sáu trần sanh ra sáu thức - Sáu thức này khởi ra sự phân biệt chấp trước làm não loạn thân tâm, không lúc nào ngưng nghỉ. Do đó tạo nghiệp dẫy đầy, chiêu cảm quả báo trôi lăn trong ba cõi sáu đường. Trong bài niệm Phật lục, Trần Thái Tông đã khẳng định “Thân ta tức thân Phật, không có hai tướng”.

Ý tưởng đó được Tuệ Trung Thượng Sĩ diễn dịch “Khi mê không biết ta là Phật”:Tánh Phật người nào cũng có, ở Thánh không tăng, ở phàm không giảm. Những ai biết nương theo giáo pháp hành trì chuyển mê thành ngộ đều có thể thành Phật. Thế nhưng, y pháp hành trì chuyển mê thành ngộ đó là nhờ tự lực. Đó cũng chính là nhờ tánh Phật ở trong ta. Nếu lìa bỏ vọng tưởng chấp ngã thì mặt trời trí tuệ tự nhiên chiếu sáng. Ví như bụi bặm bám trên mặt gương, ắt phải tự mình lau chùi thì ánh sáng của gương tự nhiên khôi phục.

Còn Trần Tông thì “Nhân khuây bản nên ta tìm But; đến gốc hay chỉn Bụt là ta” trong Cư Trần Lạc Đạo.

Đạo Phật đã nêu cao lý tưởng giác ngộ giải thoát, đạo Phật có công năng chuyển hoá những nỗi khổ cho mọi người. Trong Kinh Kim Cang dạy rằng: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, con người muốn giải thoát những khổ đau ràng buộc, đạt đến trạng thái an lạc hiện tiền thì không nên trụ chấp vào trần cảnh hư vọng này. Bởi không trụ chấp vào trần cảnh, không sanh vọng tâm điên đảo phân biệt thì Phật tánh hiển lộ. Thế nên Tuệ Trung Thượng Sĩ  mời gọi mọi người hãy từ bỏ công ước, những giới điều trói buộc tâm thức con người, hãy lên đường bước vào cuộc sống thể nhập thực tại. Hãy an trú vào chánh niệm thì giải thoát luôn có mặt trong đời sống hằng ngày. Ngài đã truyền sức sống mới, niềm tin mới mà những gì Ngài đã từng sống, từng hành động; “A thuỳ ư thử tín đắc cập, cao lộ tỳ lư đỉnh thượng hành – Ấy ai tin được tới chỗ ấy, cất cao bước đi trên đầu Tỳ lư”( Phật Tâm Ca ). Còn Trần Nhân Tông thì “Biết chân như, tin Bát nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Đông, chứng thực tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh Thiền Nam Bắc”( Trần Lạc Đạo – hội thứ tư).

2.3.3. Tinh thần vô ngã vị tha

Thiền phái Trúc Lâm đã phát biểu quan niệm về cuộc sống nhân sinh. Họ xem chuyện sống chết là thường tình và chấp nhận cuộc sống một cách khách quan. Bài kệ khuyến chúng của Trần Thái Tông “Sinh lão bệnh tử, lý chi thường nhiên”, bài kệ của Trần Nhân Tông đọc cho Pháp Loa Nghe trước khi ông mất “Nhất thiết pháp bất sinh, nhất thiết pháp bất diệt...”. Tuệ Trung Thượng Sĩ  thầy của Trần Nhân Tông đã quở hàng thê thiếp vây quanh Ngài khóc lóc“Sinh tử là lẽ thường có gì đáng thương xót mà nhiễu loạn tâm hồn ta như thế”.

Thiền phái Trúc Lâm đã tiếp thu quan niệm nhân sinh của Đại thừa Phật giáo. Vì không có sinh ra hay mất đi nên làm gì có đi và đến. “Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương”(Cư Trần Lạc Đạo – hội thứ hai) của đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông. Tức là con người muốn thông đạt được Kim cang trí hay thật tướng của Kim cang thì dứt trừ nhân ngã hay nói cho đủ là dứt sạch tứ tướng: Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ giả.

Trong Kinh Đại Thừa Kim Cang Luận, Đức Phật nói:

"Người phàm phu nhìn nhận thân tứ đại xác thân này cho là ta nên tham sống sợ chết gọi là Ngã tướng;

Lòng còn thương ghét, ý chẳng bình đẳng gọi là Nhân tướng;

Niệm tưởng theo cái lòng dục của phàm phu dẫn dắt, chẳng lo cần cầu giải thoát là Chúng sanh tướng;

Tâm thức chưa diệt trừ, nghiệp chướng thường phát động, chẳng ngộ được cái pháp vô sanh chân không thật tánh, tâm thường theo cảnh, ý thức dẫn dắt nên gọi là Thọ giả tướng”.

Tuệ Trung Thượng Sĩ là một bậc Thiền sư thông thái đã triệt ngộ được lý tướng này, nên Ngài sống giữa cuộc đời trần thế mà vẫn tiêu dao tự tại, thể nhập diệu tánh của cuộc đời. Ngài đã vượt ra ngoài của thế giới biến kế sở chấp để trở về thế giới viên thành thật. Trên cơ sở đó, chủ trương Hoà quang đồng trần của Tuệ Trung được vận dụng vào trong đời sống một cách thực tiễn. Con người không thể tách rời khỏi cộng đồng, phải biết tuân thủ theo quy luật khách quan của cuộc sống. Chỉ trong sinh tử mới tìm thấy không có sinh tử, ở trong trần tục mới thấy có bậc Thánh giác ngộ ở đời. Với cách nhìn vô ngã như thế, con người không còn phân biệt đối đãi giữa các cặp phạm trù: nhân, ngã, bỉ, thử. Niết bàn hay sinh tử, tội hay phúc, phiền não hay Bồ đề. Các quan niệm này được đập vỡ trong bài kệ Phật Tâm Ca của Tuệ Trung: “ Niết bàn sinh tử mạn la lung, Phiền não Bồ đề nhàn đối địch.” (Niết bàn và sinh tử ràng buộc lỏng lẻo thôi, phiền não và Bồ đề coi thường cả sự đối nghịch của chúng).

Trần Nhân Tông từng ca ngợi và tâm đắc trong Thượng Sĩ Hành Trạng. Suối nguồn hạnh phúc không phải được định chế trên cái tâm thường xuyên hay sinh diệt thường tình, đối đai bỉ thử hàng ngày mà thật sự an lạc khi chúng ta hướng tâm vào thực tại:

“Tâm tức Phật, Phật tức tâm, diệu chỉ linh minh đạt cổ câm. Xuân lai tự thị xuân hoa tiếu, thu đáo vô phi thu thuỷ thâm.”

 (Tâm là Phật, Phật là tâm, tính huyền diệu thì sáng, linh và thông suốt xưa nay. Mùa xuân tới hoa xuân cười, mùa thu về, không chỗ nào là nước thu không sâu)  (Phật Tâm Ca ).

Tâm Phật và tâm chúng sanh đâu có sai khác, bởi Phật cũng là một con người do có công phu tu tập mà chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác. Con người cũng thế thôi nếu nỗ lực tinh tấn hành trì không thối thất thì tương lai cũng chứng đắc thành Phật quả mà thôi. Đúng như lời Đức Phật đã nói: "Chẳng qua do con người còn chấp vào tứ tướng, lầm chấp thân ngũ uẩn này là thật có, nên không nhận chân ra được bản tâm chân thật, Phật tính sẵn có của mình”. Thời đại Li – Trần là thời đại hình tượng con người vô ngã được thể nhập vào đời sống thực tại. Trần Thái Tông là nhà lãnh đạo khéo vận dụng triết lý con người là vô ngã để thực thi công cuộc xây dựng đất nước Đại Việt. Trong bài Phổ thuyết sắc thân, Trần Thái Tông khuyến cáo con người cần nhận thức về sự thật vô ngã để bước ra ngoài thế giới khổ đau do tự thân chiêu cảm:

 “Các người hãy lắng nghe ! Thân là gốc khổ, chấp là nghiệp nhân. Nếu tự lấy đó làm thật, tức là nhận giặc làm con. Người nên xem lại kỷ càng. Ngay sắc thân này, cái ngày chưa vào bào thai, ở đâu mà có?Phải chăng đều do, nơi khởi động của vọng niệm, tụ hội của mọi duyên, hợp thành của ngũ uẩn”.

Có thể nói Kim Cương Chỉ Nam là bản kinh vô cùng quan trọng đối với Phật giáo Thiền tông Việt Nam. Chủ trương của bản kinh này là nói lên tinh thần vô ngã, tất cả các pháp đều là Phật pháp. Điểm bừng sáng tâm đắc của Trần Thái Tông ngộ ở bản kinh này là: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Có nghĩa là không nên trụ trước nơi nào, mới sinh được tâm chân chính). Trong lúc Ngài trầm ngâm, bổng nhiên tự ngộ nên đem chỗ ngộ đó mà làm ra bài ca này, đề tên là Thiền tông chỉ nam”. Do tinh thần vô ngã và vô chấp nên mới trụ được trên mọi ý muốn của thiên hạ. Bởi thế bản kinh này trở thành cơ sở lý luận phát triển cho các hoạt động Phật giáo thiền tông và phục vụ đời sống con người. Trần Thái Tông đã chọn thêm bản kinh Kim cương tam muội chú giải để có đủ cơ sở lý luận giải quyết các vấn đề được đặt ra vào thời đó. 

2.3.4. Lý Tưởng Nhập Thế 

Ta thấy toàn bộ nội dung của Khoá Hư Lục không ngoài mục đích làm cho người học Phật được an lạc và giải thoát. Có lẽ Trần Thái Tông soạn Khoá Hư Lục để cho người tu học Phật tụng niệm. Mặt khác Khoá Hư Lục trình bày năm giới răn để cho Phật tử tuân theo và xem như nó là những bài học luân lí, đạo đức. Ngoài ra tác phẩm còn khuyên người đời làm việc thiện, bố thí cho kẻ nghèo, phải biết tôn trọng và thương yêu người khác, tôn trọng phép nước và đặc biệt là kính thờ cha mẹ và thờ vua. Đây chính là nội dung nhập thế tích cực của đạo thiền Trúc Lâm. Chính tư tưởng tu hành và giác ngộ ngay trong trần tục đã hình thành mẫu người Phật tử biết đem đạo vào đời. Chính ông là người sống trong cảnh vua chúa nhiều thứ danh lợi mà vẫn giải thoat và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất và cũng là người chủ trương đặt nền móng cho thiền phái Trúc Lâm ra đời. Không chỉ riêng về Trần Thái Tông mà lúc bấy giờ hàng loạt Thiền sư xuất gia và tại gia của giai đoạn này đều tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội và đời sống kinh tế, chính trị của đất nước. Ngài là nhà tư tưởng chiến lược, là vị tướng cầm quân, nhà tri thức lớn, nhà văn, nhà thơ, thầy thuốc. Ngài  đem hết khả năng sẵn có tham gia cống hiến, sống đúng đạo lý như Trần Nhân Tông nói trong Cư Trần Lạc Đạo:

“Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm; Ngay thờ chúa, thảo thời cha, thi đỗ mới trượng phu trung hiếu; tham thiền kén bạn, nát thân mình mà khá hồi ân.” (Cư Trần Lạc Đạo – hội thứ sáu).

 

Nếu như Trần Thái Tông dùng tác phẩm Khoá Hư Lục mục đích cho mọi người cải ác hành thiện làm lý tưởng nhập thế thì tác phẩm Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ  Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông cũng không ngoài lý tưởng đó. Bản thân của Tuệ Trung Thượng Sĩ sống trong hoàn cảnh gia tục, thê thiếp đầy nhà nhưng Ngài có tâm hồn đại ngộ siêu việt giữa cuộc đời, luôn trong sáng như hoa sen. Chính Tuệ Trung đã khai ngộ cho Trần Nhân Tông thông hiểu về tông chỉ của Thiền tông. Chúng ta phải thừa nhận rằng sự nhập thế của Tuệ Trung nói lên tinh thần vô chấp trước mọi hoàn cảnh, không phân biệt đạo và đời, với tinh thần tiêu dao tự tại. Sau đây là giai thoại giữa Tuệ Trung với Hoàng hậu Thiên Cảm chúng ta sẽ thấy tinh thần nhập thế của Tuệ Trung.

- Hoàng Hậu hỏi “Anh tu thiền mà còn ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?”

- Tuệ Trung Đáp:

“Phật là Phật, anh là anh; anh không phải cần thành Phật, Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, Giải Thoát là giải thoát” đó sao?”.

Và Trần Nhân Tông có lời nhận định về Tuệ Trung Thượng Sĩ như sau: “Thượng Sĩ sống giữa lòng thế tục, hoà ánh sáng mình trong cuộc đời bụi bặm (Hòa quang đồng trần); trong mọi cuộc tiếp xúc, Thượng Sĩ luôn giữ thái độ hoà ái nên chưa bao giờ gặp phải những trường hợp phiền nghịch. Do đó Ngài có thể tiếp nối được hạt giống chánh pháp, dìu dắt được những kẻ sơ cơ. Ai đến tham cứu tìm học với Ngài cũng được Ngài chỉ dẫn sơ lược cho thấy phần cương yếu của đạo pháp khiến tâm ho có chỗ nương tựa. Thượng Sĩ không bị ràng buộc bởi hình thức; khi thì ẩn tàng, khi thì lộ diện, Ngài không chấp vào hình thức và danh từ”.

Xét về tác phẩm Phật Tâm Ca của Tuệ Trung ta thấy ít nói về vấn đề nhập thế mà chỉ nêu cao tinh thần tiêu dao tự tại, nhưng chính sự tiêu dao tự tại của Thượng Sĩ đã nói lên sự nhập thế rồi. Tuệ Trung nói : “Trì giới và nhẫn nhục, chỉ chuốc tội chứ không chuốc phúc, muốn biết không tội phúc, thì đừng trì giới nhẫn nhục. Như khi người trèo lên cây, là đang trong bình an lại tìm lấy sự nguy hiểm. Nếu người ta không trèo lên cây thì gió lay, trăng dọi, có làm gì được”. Các vấn đề nay trước đó cũng được các Thiền sư,  Phật tử nổi tiếng như Diệu Nhân, Ỷ Lan đời Lí phát biểu nhiều lần trước đó, nhưng biện pháp giải quyết chúng thì chưa thấu đáo và khó trở thành hệ thống lý luận. Đến đây, những chủ đề tư tưởng Phật giáo ở giai đoạn này Thượng Sĩ đã kết thúc và tính tích cực nhập thế của Thiền tông đã được đẩy lên cao mang một diện mạo và đặc trưng mới. Nếp sống thiền không còn giới hạn trong khuôn viên nhà chùa với việc tu trì hay chấp tác bình thường mà còn ra vào tự tại mọi nơi, thậm chí ngay giữa chiến trường bảo vệ non sông Tổ quốc trong ý nghĩa“Chiến trường là Thiền đường”. Thượng Sĩ là mẫu người đại diện nhập thế siêu việt của Thiền tông trong triều đại Lí – Trần “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền; Một đoá hoa sen trong lò lửa hồng. Khi không có ý khí thì tăng thêm ý khí, được nơi an định hãy cứ an định” (Phật Tâm Ca). Phải chăng đây là nếp sống hướng thiện mà con người luôn khát vọng giữa cuộc sống thực tại này. Như con tim nắm giữ sinh mệnh con người. Cũng vậy, nếp sống này đưa con người đến miền đất an lạc ngay giữa trần thế. Điều đó chúng ta thấy rõ ngay ở tựa đề tác phẩm “Phật Tâm Ca” Thượng sĩ đã hát ca về tâm Phật của chính mình và mọi người ngay trong cuộc sống trần thế. Chính nếp sống thiền mà Thượng Sĩ  thiết lập là sự kết tinh của quá trình biến chuyển từ một hình thức Phật giáo chức năng chuyển sang hình thức hoạt động Phật giáo thế sự, có nghĩa là Phật giáo với chủ trương nhập thế, làm cho đời sống sáng tươi. Đỉnh cao của một giai đoạn Phật giáo mới này nói lên sự nhập thế tích cực thông qua nhà Vua kiêm Thiền sư Trần Nhân Tông đã trở thành một lối sống "Cư Trần Lạc Đạo”, đã tạo nên kỳ tích của lịch sử với ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, mở mang bờ cõi, góp phần bảo vệ và phát triển mọi thành quả giá trị văn hóa, văn học nước nhà. Sự thành công của nhà Trần là có các nhà vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tinh thần "Cư Trần Lạc Đạo”để huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân để đồng tâm hợp lực xây dựng đất nước Đại Việt.

Ta thấy tinh thần “Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên” (Cư Trần Lạc Đạo – hội thứ mười). Vui với đạo và tuỳ duyên ở đây đã nói lên sự tuỳ duyên nhi bất biến – bất biến nhi tuỳ duyên. Lý tưởng này Trần Nhân Tông đã thể hiện một cách triệt để trong tinh thần nhập thế và xuất thế đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho đường lối Thiền phái Trúc Lâm hoạt động và đã hiển nhiên trở thành biểu trưng của đạo Phật. Với hai chữ “Tuỳ duyên” thôi Trần Nhân Tông đã làm nên tất cả và đã để lại dấu ấn vàng son trong lịch sử. Chính trong tinh thần tuỳ duyên sống trong cảnh trần bụi bặm mà vẫn vui với đạo, đói ăn, mệt ngủ trong tinh thần tự tại vô nhiễm giữa cuộc đời đã tạo nên một Trần Nhân Tông trọn vẹn giữa đạo và đời.

Thiền phái Trúc Lâm đã nhập thế cùng với dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước. Nó không chỉ tạo ra bản sắc thiền tông Đại Việt mà còn tác động mạnh mẽ vào lĩnh vực chính trị, văn hoá xã hội nước nhà. Việc định hướng bảo vệ dân tộc, mở rộng biên cương, chấn hưng văn hoá Đại Việt của nhà Trần đều mang dấu ấn quan điểm Phật giáo. Với những chứng tích lịch sử vẻ vang ấy đều nhờ vào tư tưởng “tuỳ duyên mà vui với đạo” của Thiền phái. Sự thành công của nhà Trần là nhờ có các Thiền sư, các nhà vua biết vận dụng tư tưởng Cư Trần Lạc Đạo. Trong đó, Tuệ Trung Thượng Sĩ là người có công lớn đóng góp cho đất nước qua hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông và cũng là người truyền tâm ấn cho Sơ Tổ Trúc Lâm. Và Trần Nhân Tông triển khai chủ thuyết  Cư Trần Lạc Đạo làm tư tưởng chính cho cả Thiền phái. Thông qua bài phú Cư Trần Lạc Đạo, tư tưởng ở đời mà vui với đạo, càng làm sáng tỏ tinh thần “tuỳ duyên” để con người an trú với đạo. Ngay trong câu đầu của hội thứ nhất. Trúc Lâm Đầu Đà đã cho biết phạm trù đạo và đời được xác lập theo quan điểm mới mà Thiền phái Trung Hoa chưa hề đề cập “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”. Qua đó ta thấy lý tưởng sống của Trúc Lâm Đầu Đà, là dù sống ở thành thị gánh vác bao nhiêu việc đời, song khi xử lý công việc với lòng thanh thản chẳng khác gì ở núi rừng. Với quan điểm này, đạo Phật ngày nay được xem như là trọng điểm trong việc tích cực nhập thế truyền bá chánh pháp.

2.3.5. Con người sống trong suối nguồn hạnh phúc

Theo quan niệm Phật giáo, hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau. Nếu có khổ đau là không có hạnh phúc. Không ai muốn khổ đau, ai cũng muốn hạnh phúc. Đó là một thực tế. Thông thường con người thường tránh nói chuyện đau khổ, tuy nhiên trong Phật giáo, người thực hành Phật pháp không hề chạy trốn khổ đau mà trái lại thường quán sát về nó, nhờ quán sát sự đau khổ mà ta có thể thực nghiệm về đời sống tâm linh.

Quán khổ đau của chính mình một cách thường xuyên là điều thiết yếu giúp ta từ bỏ tâm bám víu, ích kỷ, nuối tiếc. Còn quán sát nỗi đau của người khác giúp ta phát triển lòng từ bi và thái độ sống tri túc, nhiệt tình trong sự chia sẻ trách nhiệm của người khác, đồng thời thiết lập mối quan hệ tương thân tương ái giữa cộng đồng và xã hội, phát triển đời sống tâm linh nhằm xây dựng một cuộc sống tốt đẹp ngay giữa cuộc đời này.

Nếu nói và nghĩ về khổ đau để mà chán ghét và chạy trốn nó thì đấy không phải là quan điểm của Phật giáo. Quán sát về khổ đau để sống tích cực hơn, vị tha hơn, bớt cố chấp thì đấy mới là một phần ý nghĩa của người học Phật.

 Con người chúng ta khi sinh ra và lớn lên ai cũng từng nếm những mùi vị khổ đau và luôn ấp ủ những ước mơ đi tìm hạnh phúc, nhưng thử hỏi có mấy ai được toại nguyện điều mơ ước của mình? Có thể nói hầu hết đều chuốc lấy sự thất bại. Chỉ có đạo Phật mới hoá giải tất cả những nỗi khổ, niềm đau ấy và mang lại nguồn hạnh phúc an lạc cho mọi người.

Thực tế những nỗi khổ đau của con người trong cuộc sống đã được xác lập khi mơi sinh ra bằng  tiếng khóc chào đời (?). Và lớn lên đắm mình trong ngũ dục lạc chẳng bao giờ có giây phút bình an hỷ lạc. Và nếu con người tránh xa cuộc sống thực tại, để đi tìm hạnh phúc cho mình thì lại khổ đau nhiều hơn. Vì thế con người không nên vội vã tìm kiếm hạnh phúc ảo giác bên ngoài. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng Ngài nói:

"Phật tại thế gian, bất ly thế gian giác

Ly thế mích Bồ đề, cáp như cầu thố giác."

 (“Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian mà giác ngộ, nếu lìa thế gian mà tìm Bồ đề, cũng như tìm lông rùa sừng thỏ”).

Cho nên sự tu hành phải ở tại thế gian, giác ngộ cũng ở tại thế gian. Nhưng người có tâm hướng về đạo, họ không thể chán bỏ thế giới, trốn tránh loài người trên thế giới thế này mà “độc thiện kỳ thân” tu hành chứng quả. Bởi vì một hành giả muốn thành Phật, ngoài việc có đầy đủ trí tuệ, phải có tâm bi nguyện rộng lớn phổ độ chúng sanh. Cần phải có tâm bi và trí song hành, đạt đến chỗ triệt để, viên mãn mới có thể thành Phật. Tuệ Trung Thượng Sĩ đã thể nhập diệu lý của cuộc đời. Ngài đã vượt ra ngoài thế giới lý luận để trở về với hiện thực hàng ngày:

 “Bỏ vọng tâm , tìm chân tính; giống như người tìm bóng quên gương. Nào có biết bóng từ trong gương mà ra, nào có biết cái vọng tâm dẫn đến từ trong cái thực. Cái vọng đến thì cũng chẳng thực cũng chẳng hư, cái gương tiếp nhận không tà cũng không chính. Không có tội không có phúc; lẫn cả hai trai và ngọc trắng. Ngọc thì có vết mà hạt trai thì có tỳ, còn linh thì cũng đỏ cũng không xanh” (Phật Tâm Ca).

Có thể nói Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ là bài ca được thi hứng từ trong cảm nhận hỷ lạc chứng ngộ ngay trong cảnh trần tục. Ngài đã đem suối nguồn an lạc, hạnh phúc từ trong tâm khảm của chính mình để rao ca trong cuộc sống trần thế. Còn Trần Thái Tông đã ung dung cất lên tiếng cười trào lộng của tâm hồn khai phóng “Lão tăng mang đạo năng an cách, Tiếu sát bàng quang bất tự tri” (Niêm Tụng Kệ). Khoá hư lục của Trần Thái Tông một mặt không ngừng nêu cao tinh thần tu tập, hành trì để an trú trong chánh niệm, mặt khác khuyên con người tránh ác hành thiện, mục đích  đạt đến trạng thái an lạc giải thoát bằng cách: Sám hối, hành trì giới định tuệ, niệm Phật, tọa thiền… Đó là những vấn đề căn bản bước đầu cho những người hành đạo. Vâng, đó là những vấn đề chính yếu của những người mới hành đạo, có hành trì tu tập mới tìm ra được sự an lạc nơi chính mình. Đương nhiên sự giác ngộ và an lạc còn tuỳ thuộc vào cấp độ tu chứng của mỗi người.

Trần Nhân Tông còn khuyến cáo mọi người hãy tinh tấn rèn lòng làm Bụt như là sự thăng tiến đạo đức bằng nhiều phương thức để giác ngộ: “Rèn lòng làm bụt, chỉnh xá tua một sức dồi mài; đãi cát kén vàng, còn lại nhiều phen lợi lộc” (Cư Trần Lạc Đạo – hội thứ tám). Cho nên Trần Nhân Tông, nói cách thức giác ngộ có khác nhau nhưng chân lý là một. Với quan điểm này con người hành trì tu tập có nhiều phương thức khác nhau. Nhưng với mục đích chung là đạt đến trạng thái an lạc giải thoát. Sống đời mà vui với đạo theo Trần Nhân Tông là cuộc sống thiền vị, là nguồn an lạc hạnh phúc ngay nội tâm được tuôn chảy trong mọi hoàn cảnh. Với lý tưởng tuỳ duyên, Trần Nhân Tông đã tích cực đóng góp cho đạo và đời về nhiều mặt như tư tưởng, chính trị, văn hoá mỗi ngày một khởi sắc và đem lại nguồn hạnh phúc, hoà bình, thịnh trị ngay trong lòng dân tộc.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    

2.3.6. Đặc sắc chân lý nghệ thuật

Một tác phẩm nghệ thuật được sáng tác không chỉ có đúng và tốt, mà còn phải hay, sinh động, hấp dẫn. Đó là nguyên lý cơ bản của tính thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa tư tưởng và nghệ thuật. Gontsarop nói:

“Nhà bác học chẳng xây dựng một caí gì cả, mà phát hiện cái sự thật có sẵn và ẩn núp trong tự nhiên, còn người nghệ sĩ thì xây dựng những cái giống như thật, tức là sự thật do nhà thi sĩ quan sát được phản ánh vào tưởng tượng của mình, rồi phản ánh chuyển hoá những phản ánh ấy vào tác phẩm của mình…như vậy nghĩa là sự thật của nghệ thuật và sự thật của hiện thực không phải là một. Một hiện tượng được chuyển hoàn toàn từ cuộc sống vào tác phẩm nghệ thuật sẽ bị mất tính chân lý của hiện thực và không trở thành một sự thật nghệ thuật được”.

tác phẩm nghệ thuật, con người như được giải thoát mọi ràng buộc và tự do tái tạo đời sống theo lý tưởng của mình. Con người tự do “bay thẳng cánh muôn trùng tiêu hán, phá vòng vây bạn với kim ô”. Do đó một tác phẩm nghệ thuật ra đời, người ta chờ đợi nó nói lên một điều gì đó mới mẻ, một nếp sống, một cách nhìn, một lối cảm xúc, một hướng vươn tới, nghệ sĩ lớn bao giờ cũng có những khám phá sáng tạo riêng, nó không phải là sự bày biện giả tạo mà bao hàm tất cả vốn sống, tất cả hoài bão, tất cả tài năng của mình dồn vào trong đó.

 Có thể nói văn học Phật giáo thời Li – Trần đã tổng hợp tất cả những triết lý nghệ thuật sống, những áng văn chương đặc sắc nghệ thuật mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Trong tác phẩm Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông đã hiện lên trước mắt ta một thế giới con người thật đẹp, hoành tráng, thiêng liêng. Hình ảnh bốn núi được khắc hoạ bằng hình ảnh bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trong năm sinh động vô cùng. Thế giới sáng tạo được  khai mở tột cùng, làm tuôn chảy những dòng suối thi ca, hoá thành bức tranh bốn mùa xuân hạ thu đông với thẩm mỹ tuyệt đẹp.

“Tranh vanh bốn núi vạn cây tùng

Liễu ngộ đều không vạn vật không

Ba cẳng lừa kia mừng vướng đó

Cỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng”

Với phong cảnh thiên nhiên, ngôn ngữ của một tâm hồn chứng ngộ, bài pháp Tứ Diệu Đế khô khan đã biến thành bài văn diễm lệ với hình ảnh sống động, con người hữu tình. Thông qua sự miêu tả từng mùa, tâm trạng con người được thể hiện với bao màu sắc tương ứng. Con người hình như cảm nhận cái đẹp từ trong hiện thực cuộc sống với bốn mùa thay đổi. Đọc mấy câu miêu tả về mùa xuân, biểu tượng cho sinh trưởng, lòng ta như tràn đầy sức sống mới: “Nhất thiên minh mị, thôn thôn liễu lục đào hồng; vạn lý phong quang, xứ xứ oanh đề điệp vũ” ( Một trời sáng đẹp, xóm thôn liễu biếc đào hồng;  muôn dặm phong quang, chốn chốn oanh ca bướm múa).

Mặt khác Trần Thái Tông làm sáu bài sám hối, bài nào lời văn cũng diễm lệ, dễ đi vào lòng người, khiến người thức tỉnh thăng tiến trên con đường chuyển hoá thân tâm. Quả đúng với câu nói: “Ai nói cái đẹp cứu rỗi nhân loại đúng thật”. Duy người đọc chỉ biết đó là cái đẹp của giá trị nghệ thuật thẩm mỹ, mà con người vươn tới như Ngữ lục vấn đáp môn hạ đã viết: “Thiên giang hữu thuỷ thiên giang nguyệt, vạn lý vô vân vạn lý thiên” (Ngàn sông có nước ngàn sông trăng chiếu, muôn dặm không mây muôn dặm trời xanh). Quả thật lời thơ nghe mượt mà, ý thơ thì thâm trầm huyền diệu, thanh thoát vô cùng. Trong phong cảnh trời xanh, trăng chiếu là đề tài tuyệt đẹp làm cho biết bao thi sĩ phải tuôn chảy những tư tưởng những luồng cảm xúc của mình vào để chế tác thành những tác phẩm nghệ thuật. Ta thấy trời xanh, trăng chiếu dường như thiên nhiên đã hoà quyện với đất trời, đồng thời cũng hoà quyện với nội tâm con người đi vào thế giới sâu lắng nhất, để cho con người thưởng thức cái trinh nguyên của cuộc đời.

Với tác phẩm Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ với ý chỉ thiền tông diệu hạnh tuyệt tác. Một tâm thức khai phóng nhiệm mầu hẳn nhiên là một tác phẩm văn chương đầy đủ chất thẩm mỹ nghệ thuật. Bài ca đúc kết ý tứ chặt chẽ, giọng ca vừa mang âm hưởng thiền, vừa giàu hình ảnh văn học, thuật ngữ Phật học đã đem đến cho người tiếp nhận một cách nhìn khai phóng. Tuệ Trung đã sử dụng lối nghịch ngữ “Tâm tức Phật, Phật tức tâm” (Phật Tâm Ca), nhằm nhấn mạnh sự khai mở Phật tính ở ngay trong tâm của mỗi người. Với quan điểm này ta thấy Trần Thái Tông cũng thường sử dụng lối nghịch ngữ trong Tụng cổ hoặc Niêm tụng kệ qua đoạn đối thoại như:

Cử: ..... Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật tính không ?”

............ Triệu Châu đáp: “Không”.

............ Lại hỏi. Châu đáp: “Có”.

Niêm: .. Nửa cân tám lạng,

............ Tám lạng nửa cân.

Tụng:... Hỏi đáp nhịp nhàng giữa hữu vô,

............ Dưới lời nói ấy diệt hàm hồ;

............ Một đời tự phụ trang hào kiệt,

............ Thế cũng vẫn là chẳng trượng phu.

Qua đó ta thấy lối nghịch ngữ rất rõ trong câu “Nửa cân tám lạng, tám lạng nửa cân". Ý chỉ Thiền tông vô cùng độc đáo, nhằm triệt phá cái tâm cố chấp của hành giả, đạt đến cảnh giới cao nhất của Thiền.

Trong tác phẩm Phật Tâm Ca của Thượng Sĩ đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ để nói lên triết li nhập thế vô cùng đặc sắc qua hình ảnh hoa sen hiện lên với tính chất vô nhiễm giữa cuộc sống trần thế “Nhất đoá hồng lô hoả lý liên” (Một đoá hoa sen trong lò lửa hồng) (Phật Tâm Ca).

Trong tác phẩm Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông. Ngài đã sử dụng thủ pháp ngôn ngữ nghệ thuật trong hội thứ mười có bài kệ thất ngôn tứ tuyệt bang chữ Hán. Bài kệ này có thể xem là tư tưởng chủ đạo của Thiền học toàn bài phú và cũng là cơ sở lý luận hình thành chủ thuyết “Cư Trần Lạc Đạo” của Thiền phái Trúc Lâm:

“Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”

                                      (Cư Trần Lạc Đạo– hội thứ mười)

                   Ngoài ra, thông qua ba tác phẩm trên còn có một số thủ pháp nghệ thuật khác như  thường sử dụng khái niệm,  phạm trù triết li Thiền, mỹ học Thiền, ước lệ hoá,  điển tích, điển cố… Qua đó, cho ta thấy văn học Phật giáo thời Lý – Trần không những phong phú về triết lý sống, giác ngộ giải thoát… mà còn thể hiện lối văn chương tuyệt tác giàu chất nghệ thuật.

KẾT LUẬN

Văn học Phật giáo thời Lý – Trần đã đúc kết tất cả những tinh hoa, nghệ thuật, những triết lý giác ngộ giải thoát … đã tạo nên bức tượng đài hùng vĩ giữa lòng dân tộc. Dấu ấn ấy sẽ mãi là hình ảnh bất hủ trong lòng người đọc. Khi nói về văn học thời Lí – Trần thì Nguyễn Công Lý có lời nhận định như sau:

Nếu yêu nước và nhân đạo là hai nội dung, chủ đề xuyên suốt của văn học Việt Nam thì văn học Phật giáo thời Lí – Trần được vinh dự là một bộ phận văn học góp phần đặt nền móng vững chắc cho hai nội dung, chủ đề trên”.

Với tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm đã trở thành những điểm đặc trưng của Thiền tông Việt Nam, mang đậm tính chất phục vụ đạo pháp và dân tộc phát triển đến chỗ tột cùng của nó. Thật đúng với lời nhận định của Mạn Đà La:

“Tinh thần của Thiền học Trúc Lâm là Thiền học dân tộc, nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn tới đỉnh cao của con người là giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Mặt khác không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho chúng sanh bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc những người gần mình và có ân nghĩa với cuộc sống chính mình”.

Thông qua tác phẩm Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông, Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ và Cư Trần Lạc Đạo của Trần Nhân Tông đã thể hiện được tất cả những tính cách đặc trưng ấy, và đã tạo nên dấu ấn của dòng văn học Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng. Dù chúng ta nhìn nhận từ khía cạnh nào đi nữa thì văn học Phật giáo thời Lý – Trần cũng có những giá trị đóng góp thiết thực của nó.

 Có thể nói nhân tố tạo kỳ tích trong thời đại này là con người. Quan trọng hơn hết cái được xem là tinh thần của thời đại, chính là hình ảnh con người tự tin, phóng khoáng và trong sáng mà đời sau khó gặp lại, dù trình độ văn minh mỗi ngày một cao hơn. Ngay giữa lòng xã hội phong kiến, những mẫu người rất tuyệt vời mà hậu thế luôn ca ngợi, đã hình thành và phát huy tối đa năng lực bản thân để cống hiến để tô điểm cho đời, cho nhân dân và cho đất nước. Văn học Phật giáo thời Li – Trần đã tổng hợp tất cả những triết lý nghệ thuật sống, những áng văn chương đặc sắc nghệ thuật mang đậm tính nhân văn sâu sắc.

Về thể loại và nghệ thuật thì văn học Phật giáo thời Li – Trần có những đặc trưng riêng. Nếu văn học Phật giáo đời Li chỉ mới có sấm vĩ, từ khúc, kệ và thơ Thiền, Ngữ lục, Minh bi ký, Thực Lục, Hành trạng thì Phật giáo đời Trần, ngoài những thể loại này còn xuất hiện thêm thơ trữ tình, thơ phú, thơ ca, tụng cổ, niêm tụng kệ, luận thuyết tôn giáo, văn truyện ký và phê bình, có trình độ nghệ thuật cao, mang nội dung tư tưởng triết lý sâu sắc, đã có đóng góp đáng kể cho nền văn học Phật giáo thời Li – Trần nói riêng và văn học nước nhà nói chung.

Nêu lên những nét đặc trưng của Phật giáo thời Lí – Trần, chúng ta không chỉ tự hào về những thành tích quá khứ vô cùng vẻ vang của cha ông, mà phải biết rút ra từ đó những bài học quý giá, áp dụng sinh động vào hoàn cảnh thực tế, hầu đáp ứng những nhu cầu bức xúc của thời đại chúng ta đang sống và để nâng cao vai trò Phật giáo trong thời đại mới. Làm được như vậy thì sự nghiệp và hình ảnh của cha ông ta sẽ còn sống mãi với thời gian./.

 

CHÚ THÍCH:

(1) Đặng Thai Mai, Mấy Điều Tâm Đắc Về Một Thời Đại Văn Học, Hà Nội: Nxb Khoa Học,  1997, trang 25.

(2) Quảng Thảo, sđd, trang 10.

(3) Quảng Thảo, sđd, trang 11.

(4) Xem Đạo Đức Kinh,  chương 67.

(5) GS. Trí Không, Những Bài Giảng Mẫu, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb Tp. Hồ Chí Minh,1994, trang 478.

(6) Thích Chơn Thiện, sđd, trang 156.

(7) Xem Tập San Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, số 34, trang 35.

(8) Trần Đình Sửu, Thi Pháp Học, Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang 26.

(9) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, Khoá Hư Lục, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb Tôn Giáo, 2003, trang 5.

(10) Việt Nam Phật giáo sử luận, trang 301.

(11) Thích Thanh Từ, sđd, trang 189 – 190.

(12) Sđd, trang 188,

(13) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, sđd, trang 7.

(14) Sđd, trang 66.

(15) Sđd, trang 27.

(16) Trích từ Thích Phước Đạt, Bình Luận Văn Học, nxb Văn Hoá Sài Gòn, 2006, trang71.

(17) Thích Thanh Từ, sđd, trang 231.

(18) Sđd, trang 183.

(19) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, Sđd, trang 22.

(20) Sđd, trang 60.

(21) Thích Thanh Từ, sđd, trang 188.

(22) Nguyễn Lang , sđd, trang 256.

(23) Sđd, trang 258.

(24) Thích Thanh Từ, sđd, trang 315.

(25) ND. Thích Chân Tính, Những Điểm Đặc Sắc Của Đạo Phật, Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2001, trang 29.

(26) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, sđd, trang 89.

(27) GS. Lê Đình Kỵ, sđd, trang 23.

(28) Sđd, trang 18.

(29) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, sđd, trãng 14.

(30) Trích từ Thích Phước Đạt, Bình Luận Văn Học, nxb Văn Hoá Sài Gòn, 2006, trang 76.

(31) Sđd, trang 78.

(32) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, sđd, trang 78.

(33) Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, sđd, trang 104.

(34)Thích Thanh Từ, Tam Tổ Trúc Lâm,TP. Hồ Chí Minh: Nxb Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, 2005, trang 194.

(35) Sđd, trang 5.

(36) Trích từ Tập San Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, trang 40.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thích Thanh Từ, Tam Tổ Trúc Lâm, TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, 2005.

2.Thích Phước Đạt, Bình Luận Văn Học, nxb. Văn hoá Sài Gòn, 2006.

3.ThS. Thích Phước Đạt, Bài giảng văn học Việt Nam tại Học Viện Phật giáo Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh,  khóa VI, 2007.

4. Lịch sử văn học Việt Nam, 2 tập, nxb. Giáo Dục, 1976.

5.Nguyễn Khắc Thuần, Nước Đại Việt Thời Lý - Trần, nxb. Thanh Niên, 2002.

6. Thích Giác Toàn, Thẩm mỹ hoc Phật giáo thời Lý – Trần, nxb. Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh, 2006.

7. Dương Quảng Hàm, Việt Nam Thi Nhân Hợp Tuyển, nxb. Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1960.

8. GS. Lê Mạnh Thát, Tổng Tập văn học Phật giáo Việt Nam, 3 tập, Tp. Hồ Chí Minh:  Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 2001.

9. GS. Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, nxb. Phương Đông, 2005.

10. Trần Văn Giáp, Phật Giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ XIII, Tp. Hp Hồ Chí Minh: Nxb. Vạn Hạnh, 1968.

11. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I, II và III, Hà Nội: Nxb. Văn Học, 1994.

12.  Phan Lạc Tuyên,  Lịch sử bang giao Việt Nam và Đông Nam Á, nxb. Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, TP. Hồ Chí Minh, 1993.

13.  Từ Điển Văn Học, Tập I và II, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1984.

14. Nguyễn Công Lý, Văn học Phật giáo thời Lý - Trần diện mạo và đặc điểm, TP. Hồ Chí Minh: Nxb. Đại Học Quốc Gia, 2003.

15. Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, 3 tập, nxb. Khoa Học Xã Hội, 1984.

16.GS. Lê Đình Kỵ, Phê bình nghiên cứu văn học, Tp.Hồ Chí Minh: Nxb. Giáo Dục, 1999.

17.Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, nxb. Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1958.

18. Quảng Thảo, Chân dung con người trong thơ Thiền Lý - Trần, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tôn Giáo, 2007.

19. Chế tác: Trần Thái Tông Hoàng Đế, Khóa Hư Lục, Tp.Hồ Chí Minh: Nxb. Tôn Giáo, 2003.

20. HT. Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Thiền Viện Thường Chiếu ấn hành, 1995.

21. Đặng Thai Mai, Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1997.

22. GS. Trí Không, Những Bài Giảng Mẫu, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh,1994.

23. ND. Thích Chân Tính, Những điểm đặc sắc của đạo Phật, Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2001.

24. Thiền học đời Trần (Viện NCPH Việt Nam - 1995).

25. Kinh Pháp Cú: câu 103

Cập nhật ( 16/03/2009 )
 
< Trước   Tiếp >

Tìm kiếm bài viết

Click here !
Click here !
Click here !

Liên lạc online